1.
Những
năm tám mươi, thị trường đồ cổ ở thành Bắc Kinh phân ra làm bốn khu vực lớn,
phía đông có hai cái chợ âm phủ hay còn gọi là “chợ sớm”, một cái ở Sùng Văn
môn, một cái ở Tuyên Vũ Môn, canh ba mở chợ, canh năm tan chợ, hai trăm năm nay
vẫn luôn như vậy, bán hầm bà lằng các loại hàng bất chính vàng thau lẫn lộn, đồ
tốt ở đó giá cũng không hề rẻ chút nào. Còn có hai nơi khác nữa, một là Xưởng
Lưu Ly, ra đời và phát triển từ hai triều đại trước, còn một cái khác ra đời
sau chót hiện cư ngụ tại chợ đồ cũ Phan Gia Viên. Mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng
người ta vẫn truyền tai nhau rằng, nếu muốn tìm đồ cổ chất lượng thực sự thì phải
đến Phan Gia Viên.
Lúc
ấy mặt hàng buôn bán ở chợ đồ cũ Phan Gia Viên có thể nói là thượng vàng hạ
cám, từ đồ cổ đến tang vật trộm cắp. Trong chợ, kẻ gian nhan nhản, rùa, thỏ tả
pín lù loại người nào cũng có. Các sạp hàng ở vỉa hè đồ giả như mây mà đồ thật
trên tay cũng không ít. Hôm nay ở chợ tôi đụng trúng một gã béo đeo bùa Mô Kim,
kiếm chén cơm đổ đấu. Hồi đó ở Phan Gia Viên nhắc tới tên tôi, tốt xấu gì dù
sao cũng có chút số má.
Gã
béo đó là Lão Nghĩa mù, hôm đó, lão tới thăm tôi. Nếu xét về vai vế tôi phải gọi
lão một tiếng “sư thúc”. Lão tìm tới,
giao cho tôi một cái túi vải lớn, trong túi có dù kim cương, bát chu sa, vuốt
phi hổ, roi đả thần, móng lừa đen, áo thủy hỏa, áo da chuột, giày may mắn, ấn
Phát Khâu, túi càn khôn, còn cả một cuốn “lăng phổ” nữa. Tôi nghe lão Nghĩa mù
nói roi đả thần, bát chu sa, dù kim cương, túi càn khôn, vuốt phi hổ, áo thủy hỏa
chính là do sư phụ lão tức sư tổ của tôi truyền lại.
Đó
là toàn bộ trang bị hành nghề của dân đổ đấu. Mấy thứ này người ngoại đạo có cũng
vô dụng, chỉ nằm trong tay người được trân truyền bùa Mô Kim mới có thể phát
huy khả năng chân chính của nó.
Tôi
vốn tưởng rằng lão Nghĩa mù niệm tình hương hỏa mà chiếu cố tôi, đâu biết rằng
thực ra không phải lão định cho không. Mắt lão không tốt, lại lớn tuổi, tay
chân chậm chạp, kiếm ăn không nổi nữa, muốn tôi đi kiếm đồ rồi chia cho lão một
nửa. Kỳ thật cho dù lão không nói tôi cũng sẽ không để lão phải chịu thiệt. Có
điều từ sau khi chui ra được từ núi quan tài, tôi đã không còn đổ đấu nữa. Theo
tôi được biết, Mô Kim Phát Khâu nổi lên từ thời Hậu Hán, người đeo bùa là Hiệu
úy, lưng cõng con dấu gọi là Thiên quan, đều có thuật tầm long.
Nói
đến tầm long, long là gì? Long giả có thể sáng có thể tối, có thể lớn, có thể
nhỏ, bay lên trời, lặn xuống vực sâu. Có người cho là chém gió, làm gì có ai
nhìn thấy long? Người khác nhìn không ra nhưng Mô Kim hiệu úy có thể nhìn ra.
Cái gọi là tầm long, chính là nhờ vào xem hình thế núi, xem thiên văn tìm nơi
có long mạch, long huyệt. Tầm Long Quyết có nói: “Đại đạo long hành suất hữu
chân, tinh phong lỗi lạc thì long thân, tứ chi phân xuất tứ thế giới, nhật nguyệt
hạ chiếu vi sơn hình!” (Đi theo đường lớn sẽ gặp rồng, đỉnh tinh tú chiếu sáng
là thân rồng, tứ chi phân ra bốn thế giới, soi sáng nhật nguyệt thành hình
núi!) Mô Kim phù là vật hộ thân của dân đổ đấu Mô Kim Hiệu Úy, không có Mô Kim
phù, không phải là Mô Kim Hiệu Úy. Mô Kim Hiệu Úy đeo phù tầm long, đào trộm mộ
lấy bảo vật cứu nhân độ thế. Tổ sư gia lập ra quy củ: Mô Kim Hiệu Úy có hai điều
đại cấm kỵ: Một: Không đi một mình; Hai: Không truyền cho người trong nhà.
Không đeo phù thì không sao, đeo Mô Kim phù rồi, dám không tin hai đại kỵ này
sao?
Điều
hai đại kỵ này muốn dăn dạy đó là, không phải kiêng lúc gà gáy tắt đèn không được
trộm mộ mà là tối kỵ việc hành động một mình, riêng lẻ. Bất luận bạn tài giỏi,
nhiều kỹ năng thế nào đi chăng nữa, phạm vào đại kỵ, quay đầu lại đều không có
kết quả tốt! Nghe nói Phát Khâu tầm long ấn bị hủy vào đời Minh, tôi không biết
vật mà lão Nghĩa mù lấy được này thật hay là giả. Còn Mô Kim phù truyền lại tới
đời sau chỉ còn ba miếng, tới những năm cuối triều Thanh lại rơi vào tay Trương
Tam Thái Gia, một mình hắn ta đeo ba phù, cũng không dám tách Mô Kim phù ra.
Trương Tam Thái Gia có bốn đồ đệ, Mô Kim phù truyền lại cho ba người đồng thời
còn truyền lại một câu: “Hợp tắc sinh, phân tắc tử” (Hợp thì sống, chia thì chết).
Mấy người bọn họ không tin lời này của Trương Tam Thái Gia, kết quả là toàn bộ
đều bị chôn vùi trong lòng đất.
Ban
đầu do hoàn cảnh bức bách tôi mới bất đắc dĩ phải đi trộm mô, tôi cũng không phải
loại người lúc ngã sông thì hô cứu mạng, được cứu lên bờ mặc quần áo vào rồi lại
còn khóc đòi xuống sông, chân không dài ra trên cơ thể người khác, đường đều do
mình tự chọn mà đi, không nên nói hai chữ hối hận, nhưng mà cái nghề đổ đấu
này, vất vả khổ cực thì không nói, nguy hiểm đến tính mạng mà cũng chỉ thu được
vẻn vẹn một hai món đồ chôn theo người chết, tôi càng nghĩ càng cảm thấy không
đáng. Minh khí (đồ chôn theo người chết) cho dù có đáng tiền, vẫn không đáng
giá bằng mạng người. Người đời thường nói trộm mộ đoạt bảo có thể phát tài, đó
là trong truyền thuyết cổ xưa thôi, thời đại bây giờ, tên lửa cũng phóng lên vũ
trụ rồi, vài ba thủ đoạn trộm gà, trộm chó này cơ bản đã lỗi thời lâu rồi?
Nói
khó nghe hơn một chút thì trộm mộ tổn hại âm đức, không cần biết là anh kiếm lời
bỏ vào túi riêng hay là giúp đỡ người nghèo khổ, nói thế nào cũng vẫn là lấy đồ
vật của người chết bán lấy tiền. Đồ người chết là đồ không nên lấy, kỳ trân dị
bảo trong mộ cổ một khi lại thấy ánh mặt trời, tất nhiên sẽ dẫn tới chuyện
tranh giành, cướp đoạt, tất có người mất mạng, nguyên nhân cũng đều đổ lên đầu
Mô Kim Hiệu Úy. Bởi thế mới nói, chén cơn đổ đấu bới mộ này, không thể ăn cả đời
được, tôi đã quyết tâm phải cao chạy xa bay.
Lão
Nghĩa mù không đồng ý: “Hổ không rời núi, rồng không rời vực, cao chạy xa bay,
nói dễ vậy sao!”
Lão
tin cũng được mà không tin cũng chẳng sao, tôi đã quyết tâm là phải ra đi, tôi
mang toàn bộ vốn liếng trong tay đưa hết cho lão Nghĩa mù, lão chê không đủ,
tôi cũng không có thêm nữa.
Đêm
hôm ấy, tôi hẹn Tuyền Béo cùng Răng Vàng, đến quán cơm Đông Tứ. Nửa đêm không
còn đồ ăn, chỉ còn bát bánh canh. Ba người ngồi xuống, tôi mang những việc đã
trải qua nói với bọn họ một lượt.
Răng
Vàng nói: “Hồ gia, buôn bán thứ đồ này không sợ thua lỗ, anh nên thuận theo chớ
có coi thường số mệnh, mệnh của anh đã định là phải ăn chén cơm đổ đấu này rồi,
nếu không những thứ này cũng sẽ không rơi vào tay anh!”
Tôi
nói: “Tôi đổi lấy roi Đả thần, bát Chu sa, ô Kim Cương, Áo Thủy hỏa, cũng không
phải là vì muốn hành nghề đổ đấu, chỉ vì không thể bỏ vật mà tổ sư truyền lại
mà thôi. Hai người các anh không cần phải lo lắng, hiện giờ, tuy rằng tôi một đồng
xu cũng không có, nhưng tôi đã nghĩ thông rồi. Sau này ra ngoài, ba anh em ta
cũng không thể không ăn không uống, nghề mới thì làm không nổi, vả lại nghĩ kỹ
lại thì sao phải đổi nghề chứ, trăm hay không bằng tay quen mà. Chúng ta vẫn cứ
làm con buôn thì tốt hơn. Nghe đồn Quỷ thành có một kỹ nghệ tuyệt đỉnh, làm đầu
phật giả cháo đầu thật, người bình thường căn bản không thể phân biệt. Anh mà
có được một cái đầu Phật khiến cho hai ba mươi gã nhà nghề chong mắt mười ngày,
nửa tháng cũng không dám chắc là thật hay giả, không sợ không bán được hàng,
bán một cái cũng đủ ăn nửa năm. Chỉ có điều kỹ nghệ đó cũng không dễ có được,
tôi còn phải nghiên cứu nữa, nhưng dù sao cũng tốt hơn đến nơi rừng sâu núi thẳm
móc mộ cổ có phải không?”
Tuyền
Béo nói: “Bán một cái đủ ăn nửa năm, vậy còn trần chừ gì nữa? Hai hoành dựng
lên đánh một chữ - Kiền!”
(Chữ
Kiền干 hay là can nghĩa
trong câu này là theo, do hai thanh ngang có một thanh dọc ở giữa dựng lên tạo
thành nên mới có câu: hai hoành dựng lên đánh một chữ Kiền)
Răng
Vàng nóng nảy: “Ôi trời hai vị đại gia, các người đừng trách Răng Vàng ta nói
chuyện không lọt tai nha, bán một cái mà đủ ăn nửa năm, vậy cũng còn phải xem
là ăn cái gì nữa kìa, ăn bánh canh nửa năm cũng còn chưa chắc, thật đó! Hồ gia
anh đừng có chê tôi nói năng dông dài, anh nói xem anh cũng già đầu rồi, vì sao
vẫn phải tối ngày lăn lộn ở cái chỗ không ra gì, thực ra chỉ cần qua lại với mấy
người có lai lịch thôi thì cuộc sống của anh cũng đã khác lắm rồi. Ngược lại
anh cái gì cũng không muốn, chỉ chăm chăm buôn bán “lược giao hàng” (hàng giả),
không phải là muốn làm muối mặt tổ tông sao? Không để cho anh gặp vố thua lỗ lớn,
đồ đạc trong nhà đội nón đi sạch, thì anh còn chưa trắng mắt ra! Tôi cũng không
muốn múa lưỡi với anh nữa, anh ngồi đây mà tự ngẫm lại đi, đừng khiến cho toàn
bộ nước miếng của Răng Vàng tôi phải lãng phí trôi theo dòng nước!”
Răng
Vàng lại nóng nảy nói: “Béo ca ca, ngươi đừng có chỉ biết quan tâm đến bánh
canh như thế, nói vài câu đi!
Tuyền
Béo nói: “Tôi theo Hồ huynh, như anh nói đó tương lai sợ rằng cả bát bánh canh
cũng không được húp nhiều nữa, tôi còn không tranh thủ húp hai bát được sao?
Răng
Vàng nói: “Lại còn hai bát nữa? Đầu óc giản đơn, đổi lại là ta, nuốt cũng chẳng
trôi!”
Tuyền
Béo nói: “Bánh canh còn húp không được? Anh dựa vào cái gì mà đòi làm việc lớn?
Dựa vào tổ tiên hả?”
Răng
Vàng thấy Tuyền Béo không để ý tới lời của hắn, xì mũi chán nản một cái, xoay đầu
lại nì nèo tiếp với tôi.
Tôi
nói: “Anh phun ra cả chậu nước miếng, rốt cuộc là muốn nói gì? Không phải là muốn
tôi đi đổ đấu đó chứ?”
Răng
Vàng nói: “Không phải, anh đường đường là Mô Kim Hiệu Úy, vậy mà lại buôn bán “lược
giao hàng”, còn mặt mũi đi lại bên ngoài sao? Anh không thấy có lỗi với tổ sư
gia sao? Trên tay không có đồ thật mà có thể là Mô Kim Hiệu Úy sao? Chỉ có Mô
Kim Phù thôi chưa đủ, muốn kiếm nhiều tiền vẫn là phải có hàng thật, không cần
tham nhiều, chỉ cần có một hai món đồ thật, từ nay về sau tuyệt đối có thể phát
tài!”
Tôi
cùng Tuyền Béo đều biết Răng Vàng không giỏi chửi bậy, hắn ta đầu tóc suốt ngày
chải keo bóng nhẫy, giọng thì lơ lớ Bắc Kinh pha tiếng Mỹ, ít chửi bậy nhưng giọng
điệu thì đầy vẻ lên lớp, rất biết ra oai, nhìn qua thì là “nhân mô cẩu dạng” *
có điều người ngoài chỉ cần mạo phạm tới hắn một chút thôi, hắn dám bán con của
họ lấy tiền, để họ khóc tới mù mắt chứ đừng đùa! Loại thương nhân như hắn, cần
bạn thì nói trước mặt, không cần bạn sẽ nói xấu sau lưng, bình thường kiếm cơm
bằng cái miệng. Có điều những lời này của hắn cũng không phải hoàn toàn vô lý, “Lược
giao hàng” là tiếng lóng trong nghề, nói cách khác, người mua bán thứ đồ này chẳng
khác nào để cho người ta ném qua ném lại, chẳng may mua bán thất bại ngã sứt đầu
mẻ trán như chơi. Hơn nữa giới buôn bán “Lược giao hàng” ở thành phố thường phải
có nhiều mánh lới đối phó với người ngoài, muốn phát tài ở nghề này, tuyệt
không hề đơn giản.
(*
thành ngữ có ý châm chọc chỉ những người hình dung, cử chỉ, không giống người
như dáng vẻ giả bộ nghiêm trang, lịch sự thái quá …)
Buôn
bán đồ cổ không giống với những loại hình kinh doanh khác, có đổi vật ra tiền
được hay không, hoàn toàn dựa vào nhãn lực và kiến thức, sau này phát giác ra bị
mắc lừa, cũng đành ôm hận nhận phần thiệt thòi mà thôi. Xét trên đạo lý này mà
nói, trước mắt thật giả bất phân, sau này dù thật dù giả biết được rồi cũng chỉ
là “cánh tay gãy trong ống tay áo”, ngã
ngựa rồi dậy không nổi, phải tranh thủ lúc còn sớm kiếm bãi nước trong tránh lội
nước đục. Ở Phan Gia Viên “Lược giao hàng” có thể dễ bán, tôi lại đeo Mô Kim
phù, đồ trên tay tôi ai dám nói không phải là đồ thật? Nhưng ra ngoài rồi,
không có đồ thật thì đương nhiên là không ổn. Muốn bán được “Lược giao hàng”,
ít nhất cũng cần có một hai món đồ thật để ngụy trang, nếu không thì khó mà có
chỗ đứng.
Răng
Vàng nói: “Hai người các anh nghe tôi một lần, không phải bảo chúng ta đi đổ đấu,
mà là ra ngoài một chuyến, thu mua mấy món đồ mới được đào lên rồi nói là Mô
Kim Hiệu Úy chúng ta móc được, Răng Vàng tôi nhận chi tiền vốn, cho dù bất kể
kiếm được bao nhiêu tiền, anh đây ba phần ăn một, thế nào? Hồ gia, Bàn gia hai
người các anh đều là người thẳng thắn, nói một câu xem, có được hay không, một
lời quyết định đi!”
Tôi
với Tuyền Béo vốn là những kẻ không thích ngồi mát ăn bát vàng, ưa lao đầu vào
mấy nơi mạo hiểm, nghe con đường Răng Vàng vẽ ra như vậy thấy cũng có lý, không
thể không động tâm, vấn đề là đồ thật ngày nay không dễ tìm, không móc ở mộ thì
lấy đâu ra?
Vừa
hay ở Quan Trung (Lưu vực Sông Vị ở tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc) có một gã là Mã
Lão Oa Tử, không lâu trước đây nhờ người bắn tin, tuyên bố rằng mới lượm được bảo
vật trên núi. Chúng tôi ngay cả Răng Vàng cũng chưa từng gặp Mã lão Oa Tử,
không biết tin này chính xác được mấy phần.
Răng
Vàng nói nếu thực sự muốn thu mua đồ thật, không phải là không có khả năng.
Quan Trung- Thiểm Tây xưa kia vốn là vùng đất Đế vương, Nhà Chu hưng thịnh như
rồng, đất Tần vững như hổ, từ thời Lưỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán) đến nay đều
vô cùng coi trọng Quan Trung. Ở đó cổ mộ nhiều, dân trộm mộ cũng nhiều, có điều
cổ mộ cho dù nhiều, trộm mãi cũng cạn. Nhất là đối với những vùng quê nghèo
hoang vắng, mười năm thì tới chín năm không cấy hái gì được.
Từ
hai triều Tần, Hán tới nay, trộm mộ đã trở thành phong trào. Đạo tặc đào nhiều
năm như vậy, không có ngôi mộ cổ nào mà chưa bị động vào. Có đến trên trăm cái
mộ sắp bị rỗng như cái rổ rồi, cũng chẳng còn đồ gì có giá trị để trộm nữa. Dân
chúng địa phương ăn chén cơm này quả thật cũng vô cùng vất vả, buông bỏ thì
không được, đói ăn vụng, túng làm liều, quyết tâm chuyển sang làm “lược giao
hàng”. Tay nghề chế tác “lược giao hàng” nghe nói cũng truyền qua nhiều đời, làm
đồ giả tráo đồ thật. Người mua chỉ cần sơ sót một chút, chẳng những không thu
được chút tiền lời nào, mà còn có thể lỗ nặng vì mắc lừa.
Cũng
may Răng Vàng có cái mũi rất thính, hắn không cần nhìn mà chỉ dùng lỗ mũi cũng
ngửi ra được thật giả, hơn nữa hắn có mối khách hàng lớn, cổ nhân thường nói “Hóa
đáo địa đầu nhi tử”*, có người mua mới dám kiếm hàng. Ba người thảo luận hồi
lâu, quyết đinh đi Quan Trung một chuyến, tìm một hai món đồ thật làm màu để từ
nay về sau đi lừa đảo.
*(Hàng
xuống đất thủ lĩnh chết- ngạn ngữ Trung Quốc ý nói nếu người bán không chuẩn bị
thương lượng với khách hàng trước, sản xuất số lượng lớn, đến lúc chuyển tới bị
ép giá hoặc không lấy nữa người bán sẽ chịu thua thiệt)
Theo
hoàng lịch, bốn ngày sau là ngày tốt, thích hợp xuất hành. Hôm đó, tôi cùng Tuyền
Béo, Răng Vàng gấp rút tới Quan Trung. Vận trang phục mang theo đạo cụ đổ đấu bất
li thân, trước giờ chúng tôi ra ngoài làm ăn buôn bán cũng đều dựa vào mấy thứ
này để dọa người.
Ba
người tới Tây An trước, không hổ danh là đất cố đô, tám trăm dặm đất Tần bụi
vàng tung bay, danh lam thắng cảnh cổ xưa nhiều vô số. Nói tới ẩm thực, sủi cảo
Đức Phát Trường, phao mô hay thịnh tường (các món đồ ăn vặt ở TQ) có thể nói là
cái gì cần có cũng đều có đủ. Có điều chạy qua chạy lại ở đây lâu cũng không được,
còn phải về vùng nông thôn hẻo lánh nữa. Chúng tôi đi dạo ở Tây An nửa ngày, rồi
lại ngồi xe đường dài tới Hàm Dương, qua Kỳ Sơn, lại đi về hướng tây, đều là
núi non trùng trùng điệp điệp. Thế núi hoang dã oai phong, hùng vĩ như rồng
xanh, từng ngọn từng ngọn như lầu rồng bảo điện.
2.
Lại
nói mèo có đạo của mèo, chó có đạo của chó, chớ lẫn lộn sang nhau. Muốn thu mua
đồ dưới đất phải tìm chỗ có hang động. Theo tin tức chúng tôi nhận được, tòa
núi lớn như lầu rồng bảo điện đó có một khe núi lớn gọi là “Cửa điện”, lác đác
có mấy chục hộ dân sinh sống. Mặc dù dân cư ở đây thưa thớt nhưng cổ mộ lại nhiều
vô kể, minh khí phát tán ra ngoài dân gian không ít, đầu giường đất (giường lò)
của người dân ở đây toàn là bảo vật.
Sinh
sống ở “Cửa điện” có một gã là Mã Lão Oa Tử, từ nhỏ đã chui hầm móc cổ vật, thường
xuyên qua lại với lái buôn đồ cổ. Ba người chúng tôi lên đường đi tìm lão, đi tới
lúc sắc trời sắp tối thì gặp được. Lão khoảng hơn sáu mươi tuổi, mặt tím hơn
gan dê, cằm lại có một nhúm râu dê. Có điều lạ là mặc dù lão chăn dê chứ không
có chăn ngựa, nhưng ở đây từ xưa người ta vẫn gọi lão là Mã Oa Tử (trẻ chăn ngựa),
chẳng mấy người gọi là Phóng Dương Oa Tử (trẻ chăn dê), lớn lên cũng không đổi
cách gọi, cùng lắm là thêm vào một chữ “Lão”.
Mã Lão Oa Tử thấy người từ Bắc Kinh tới, liền ra đón từ xa, dẫn đường
vào nhà, nấu mỳ sợi cho chúng tôi ăn. Hắn tự xưng là kiếm sống nhờ vẽ tranh tết,
bận bịu làm việc cả một năm, đầu năm mở hàng được mười mấy hai mươi ngày. Chi
tiêu, ăn uống cả một năm phần lớn là tiền kiếm được từ vẽ tranh. Mã Lão Oa Tử vẽ
tranh môn thần (tranh hộ pháp trấn yểm để trừ tà trên cánh cửa) rất đẹp, một
phòng toàn môn thần, đỏ thẫm lại xanh đậm, người đi vào không có chỗ đặt chân.
Ngồi
một lát, Mã Lão Oa Tử mang mỳ lên, mỗi người múc một tô. Tuyền Béo ăn như hổ
đói, húp hai ba cái đã hết bát mì, lau miệng, quay đầu nói với Răng Vàng: “Từ
nơi xa xôi chạy đến cái khe núi rách nát này, chân cẳng mệt mỏi rã rời, xoắn lại
như củ tỏi lấy nhíp cậy cũng không ra, đương nhiên không phải là tới chỉ để ăn
bát mỳ. Lúc bình thường không phải anh mồm năm miệng mười sao? Vừa mới bưng
chén cơm lên mà sao đã thành như hồ lô mất miệng rồi? Anh xem trời đã nhá nhem
tối rồi, mau hỏi Mã Lão Oa Tử xem hắn có đồ tốt gì hay không?”
Sau
khi vào phòng, tôi đã để ý xung quanh, Mã Lão Oa Tử quả thực rất nghèo, trong
nhà không có đồ thừa, tất cả đều là tranh môn thần, không đợi Răng Vàng mở miệng,
tôi liền hỏi Mã Lão Oa Tử trước: “Tôi nhìn thấy lão vẽ môn thần, không chỉ có
Úy Trì Cung và Tần Thúc Bảo, lại còn có thêm cả tranh lừa! Trên cửa mà lại dán
hai cái đầu lừa đen, đó là là phong tục gì?”
Theo
như truyền thuyết mê tín thời xưa, cương thi tấn công người sống, nghe tiếng lừa
đen hí mới buông ra, cho nên dân đổ đấu phải mang “Móng lừa đen”. Tôi đã từng
nghe qua chuyện ba ba cắn người chứ chưa từng nghe lừa không hí thì không nhả
miệng. Không biết có phải truyền thuyết cương thi sợ lừa hí có xuất xứ từ nơi
này không. Chỉ có điều trong truyền thuyết dân gian, tướng quân lừa có thể hàng
yêu trừ quái, trước đây thường xuyên xảy ra hạn hán, nơi có hạn hán bệnh tật
thường có miếu thờ tướng quân lừa, có điều đều là miếu nhỏ, hương khói cũng
không vượng. Đông bắc, tây bắc vốn là hai vùng mê tín nhiều, cũng chưa từng thấy
có người dùng lừa làm môn thần.
Tranh
Tết thường thấy ở Quan Trung là tranh môn thần, táo quân, mặt hoa*, mặt tịnh*,
hay là tranh Lưu Hải câu cóc vàng*, Vương Tiểu Nhi ôm cá lớn, cũng có thể là ba
ngôi sao Phúc Lộc Thọ, còn cả Thương thần và Ngưu Mã Vương. Ngưu Mã Vương tương
truyền là thần phù hộ cho mùa màng bội thu vẽ vào tranh tết thì còn có lý. Có
điều cả một phòng tranh tết của Mã Lão Oa Tử toàn là lừa đen thì thật không thể
hiểu nổi, trên cửa vẽ hai cái đầu lừa đen, vậy thì là cầu phù hộ cái gì? Phù hộ
cho cả nhà ngu như lừa sao?
(*
-Mặt hoa, mặt tịnh: diễn viên trong hý kịch trong đó mặt hoa hay là mặt vẽ thường đóng vai có tính cách mạnh mẽ hoặc thô bạo, mặt
trắng thường đóng chính kịch không vẽ mặt
-
Lưu Hải câu cóc vàng: hình vẽ Lưu Hải hai tay cầm một xâu tiền, dưới chân có
cóc ba chân gọi là Kim Thiềm, cóc này là cóc thần)
Mã
Lão Oa tử lớn lên ở một khe núi nghèo xác, những thứ truyền thuyết dân gian mê
tín mà hắn nói là của địa phương có lẽ toàn từ trong bụng hắn chui ra, hắn nói
đây là phong tục của “cửa điện”, vẽ lừa đen chắn ở cửa để cho người chết không
đi vào nhà. Đất ở Quang Trung vừa cứng vừa dầy, người chết chôn xuống trăm năm
thành hung, ngàn năm biến thành sát, toàn thân mọc đầy lông dài, ban ngày núp
trong huyệt mộ, nửa đêm ra ngoài ăn thịt người, cái này gọi là “Phệ mao sát”
(hung thần khoác lông)!
Tuyền
Béo nói: “Mã Lão Oa Tử ông chớ thấy bọn ta mới tới mà nói bừa, tôi chẳng tin
đâu, người chết ở “cửa điện” rồi không phải là cả đời ăn hương ăn hoa, được chủ
đất cung phụng bánh bột ngô, bột mì đó sao? Sao còn sinh ra tâm địa độc ác như
vậy được?
Răng
Vàng xem chừng Mã Lão Oa Tử vẫn còn muốn nói tiếp liền nháy mắt với bọn tôi.
Tôi
gật đầu hiểu ý lại đưa sang Mã Lão Oa Tử điếu thuốc bảo hắn nói tiếp.
Mã
Lão Oa tử nói hắn vẽ lừa đen chắn ở cửa, màu vẽ thì dùng máu gà trộn với mực đỏ
vẽ lên, có thể trừ tà, trong vòng vài trăm dặm quanh đây có thể nói độc nhất vô
nhị không tranh của qua qua nổi.
Thổ
ngữ địa phương thường gọi tranh đẹp là tranh trống. Tranh giống như đồ, tiếng
trống bừng lên, sống động, linh hoạt, vút lên lại hạ xuống, vô cùng phấn khích.
Có điều tay nghề của hắn bây giờ vẫn chưa đuổi kịp ông tổ nhà hắn, ông tổ nhà hắn
vẽ tranh trống vô cùng sống động, có thể nói là kỳ tài ảo diệu, gần xa không ai
không biết. Ông tổ hắn vẽ một con lừa, treo ở trong nhà, nửa đêm trăng sáng sao
thưa con lừa trong tranh sẽ đi xuống. Có người nhìn lén ở ngoài nhà, chỉ thấy
con lừa này chân đỏ, tai như đóa hoa, mõm trắng, móng trắng, viền mắt cũng trắng,
toàn thân đen lay láy, còn đẹp hơn cả khoác áo gấm, trên bức tranh tết chỉ còn
là tờ giấy trắng! Tổ truyền nhà hắn mỗi năm mở hội tranh trống một lần, qua mấy
trăm năm, cho tới bây giờ bức tranh vẫn còn, chính là vật chí bảo gia truyền
nhà Mã Lão Oa Tử! Dứt lời, hắn đứng dậy vào trong phòng lục tung đồ đạc tìm bức
vẽ tổ truyền nhà hắn.
Hai
mắt Răng Vàng sáng lên, sáp lại gần tôi nói: “Hồ gia, anh có nghe thấy không,
Mã Lão Oa Tử này có bức tranh cực quý!”
Tôi
nói: “Anh tin lời hắn nói nhảm sao? “Kịch đánh người chẳng phải kịch hay” *, hắn
có cái tranh trống cổ quý giá gì đó liệu còn chịu ở cái nhà ngói rách nát này
sao?
(*
Thành ngữ: Kịch đánh người - Cổ đại có tiết mục biểu diễn đánh người, ý câu này
là chê trách màn kịch vụng về chẳng có gì hay ho)
Tuyền
Béo nói: “Ha Ha! Cái thằng con giời này, thì ra hắn định làm quảng cáo hả!”
3.
Răng
Vàng vào phòng trong gọi Mã Lão Oa Tử nói hắn đừng tìm nữa, tìm được chúng tôi
cũng không cần.
Mã
Lão Oa tử nói: “Bức tranh quý của tôi không phải gặp ai cũng mang ra khoe, tôi
thấy ba người các vị không tầm thường mới định cho các vị xem thử một chút, các
ông không định mở rộng tầm mắt sao? Ra khỏi thôn này rồi muốn xem thứ này cũng
không có!”
Hắn
còn nói ở “cửa điện” thứ gì cũng là đồ tốt chỉ tội nghèo, bình thường hắn chăn
dê, tranh thủ chợ phiên đi bán tranh tết, cũng không kiếm được bao nhiêu, hắn vốn
lại là kẻ tham ăn lười làm, nợ nần chồng chất trả không nổi, bức bách quá không
biết làm sao mới nảy sinh ra ý định bán đi bức tranh quý tổ truyền.
Răng
Vàng nói: “Nghèo cũng được cái là nhàn hạ, lão Hoàng đế áo vàng, đai bạc, cai
trị bốn bể, hắn không phải dậy sớm thức khuya thượng triều phê duyệt tấu sớ
sao? Không cẩn thận còn bị người ta cướp ngôi vua, cũng không bằng lão ở trên
núi chăn dê tự do, tự tại.”
Mã
Lão Oa Tử tiện miệng nói: “Tôi chỉ cần một ngày đủ hai bữa cơm, có đổi cho làm
hoàng đế tôi cũng không đổi”
Tuyền
Béo nói: “Thật chẳng hiểu nổi cái suy nghĩ của lão, đòi mang hai chén cơm tính
đổi ngôi vị Hoàng đế? Ngược lại lão nghĩ rằng hoàng thượng muốn đổi với lão
sao? Tôi nghĩ Mã Lão Oa Tử ông cũng là kẻ chăn dê biết điều, ai dè toàn nói lời
bây bạ? Có phải ăn nhiều bột ngô quá, ăn no dửng mỡ rồi lại muốn bị ném sang
Cao Ly không, tự dưng lại đẻ ra một bụng toàn “Yêu con bướm” (*) Có khi phải
tìm một bát nước lạnh dội cho lão sáng suốt ra, dội cho hết hồ đồ đi!”
(*Yêu
con bướm: Thổ ngữ của người phương bắc Trung quốc Ý: hoàn toàn bịa đặt, kiếm
chuyện, câu này đa số là nghĩa xấu, cũng có thể hiểu là đùa bỡn, trêu hoa ghẹo
nguyệt, có ý đồ xấu.)
Ta
thấy Mã Lão Oa Tử không phải là cây đèn thiếu dầu, có thể là thường ngày những
người tới chỗ hắn kiếm đồ cũng hay tán chuyện phiếm, hắn nghĩ chúng tôi là con
cóc dễ bắt, tôi nghĩ cũng không nên vòng vo với hắn nữa. Tôi rỉ tai Răng Vàng
vài câu, bảo hắn nói với Mã Lão Oa Tử là chúng ta tới kiếm đồ, có vật gì moi
móc được từ đất hoặc bảo vật nhặt được trên núi thì lấy ra cho chúng ta xem qua
một chút, muốn làm Hoàng thượng thì đừng mơ, nhưng chỉ cần có đồ tốt trên tay,
tám trăm hay cả nghìn đồng chúng ta cũng có thể trả cho lão, từ nay về sau một
ngày ba bữa không cần phải lo lắng.
Mã
Lão Oa Tử cũng là kẻ từng chui ra từ đất, hắn đương nhiên rất gian khản (giảo
hoạt cứng cỏi), người Bắc Kinh thường nói là kẻ gian khản nhưng ở vùng Quan
Trung từ này dùng như hắc thoại (tiếng long của dân đạo tặc). Dân trong nghề hỏi
thăm nhau vài câu cũng thường dùng tiếng lóng để tán gẫu. Có điều tôi nghe được
ẩn ý trong lời nói của Mã Lão Oa Tử chứng tỏ hắn chưa tin tưởng chúng tôi lắm.
Tôi nhặt một viên gạch, dùng Mô Kim phù rạch một cái, viên gạch liền đứt làm
hai nửa. Mã Lão Oa Tử mặt biến sắc, vội nói: “Thất kính, thất kính!”
Hắn
mang rượu gạo tới, chuẩn bị mâm bát, uống tới nửa đêm. Tôi nói: “Lão gọi chúng
tôi tới cái vùng đất hoang nghèo xơ nghèo xác này chỉ để giao dịch mấy cái
tranh đầu lừa vô giá trị kia thôi hả?”
Mã
Lão Oa Tử nói: “Ba người các anh tới đúng chỗ rồi đấy, đừng xem thường cửa điện
này, mặc dù bây giờ rất nghèo nhưng thời xưa không như vậy đâu! Minh triều đất
này được gọi là đất Tần, có Tần vương cai quản, một chữ Vương đích thực, Tịnh
Kiên Vương được tề vai với Hoàng Thượng, lên điện thấy mặt vua không cần quỳ,
ngồi ngang hàng cùng hoàng thượng. Cửa điện có một ngọn núi gọi là Ngọc Hoàng
điện, dưới núi có long mạch, nối thẳng tới long cung, người được táng trong núi
Ngọc Hoàng không phải ai khác chính là một vị Tần vương. Thông thường phải gọi
là mộ táng vương, quy mô của mộ Tần vương kia cũng ngang ngửa với lăng tẩm của
Hoàng đế rồi!”
Tuyền
Béo nói: “Lão đừng dọa bọn này, cửa điện toàn là núi hoang, tới cỏ ngải còn xơ
xác, mà dám nói từng chôn Tần vương sao?”
Mã
Lão Oa Tử nói: “Đây là chuyện mà bọn trẻ chăn dê đời này qua đời khác truyền lại,
trên núi có minh lầu bảo đỉnh, bốn phía có thành quây, bên dưới là ba cánh cửa
cung điện, huyền cung quy mô khủng khiếp, kỳ trân dị bảo táng theo vô số!”
Tôi
nói: “Trộm mộ ở Quan Trung này như nấm, huyền cung táng Tần vương chẳng lẽ
không có ai động tới sao?”
Mã
Lão Oa Tử nói: “Anh hãy nghe tôi giải thích, Hoàng đế Sùng Trinh của Minh triều
khi còn tại vị, Hoàng Hà ngập lụt, mất mùa liên miên, dân chúng không có cơm
ăn, từ xưa tới nay, dân nghèo thì sinh đạo tặc, trộm cướp tụ tập thì sinh loạn,
chờ thời cơ mà vác gậy tre làm phản. Ở đây có một gã gọi gã “Lão Cao Lương Cán
Tử” (thân cây cao lương) sinh ra là một hảo hán đội trời đạp đất, bị quan phủ bức
ép tới đường cùng, bất đắc dĩ đành phải chỉ huy bách tính đói cơm nổi dậy giết
quan lại tạo phản. Gã có cái dũng vạn người không địch, trên lưng xăm một cái bảo
bình, trong bình cắm một cây bảo kiếm, có thể chém bay đầu người! Chỉ cần nói
qua tên họ kẻ thù, chỗ ở, đọc xong lời chú, kiếm này liền hóa thành con rồng
xanh bay đi chém đầu kẻ thù kia rồi ngậm đầu trong miệng mang tới! Gã dẫn theo
hai trăm ngàn nghĩa quân, đánh vỡ châu phủ, mở kho phát lương, người nghèo khổ
không ai không cảm phục Lão Cao Lương Cán Tử đại nhân hắn!”
Răng
Vàng nói: “Chúng ta đừng luyên thuyên qua chuyện khác có được hay không vậy,
đang nói tới chỗ trọng yếu, tại sao lại nói sang chuyện làm phản?”
Mã
Lão Oa Tử nói: “Lão Cao Lương Cán Tử dẫn quân tiến vào phủ châu, phá vỡ sườn
núi phía nam, quật mộ tổ tiên Hoàng đế lên, khiến cho Hoàng đế Sùng Trinh tức
ói máu. Có thể do đại Minh triều mệnh chưa cạn, Lão Cao Lương Cán Tử không có số
ngồi đại điện, một lần cuồng phong nổi lên, cát bay đá nhảy, hai mắt do bị tổn
thương quá lớn gần như bị mù, đưa tay ra không nhìn thấy bàn tay, khiến cho Cao
Lương Cán Tử nếm mùi thất bại ở Quan Trung. Gã thu thập tàn binh bại tướng lui
đến của điện, ra lệnh cho mấy chục ngàn nghĩa quân đào khoét cung điện bí ẩn,
móc ra một Tần vương Đại bánh chưng*!”
(*Đại
bánh chưng: là chỉ thi thể người trên đó có đồ chôn theo)
4.
Nghĩa
quân vơ vét sạch trân bảo chôn theo, lại phỏng hỏa đốt núi, lửa cháy chừng ba
ngày, sau không có một ngọn cỏ nào lên nổi, khắp nơi đều là gạch bể ngói nát.
Lão Cao Lương Cán Tử lấy được bảo vật, vô cùng thỏa mãn cho là có thể đợi thời
cơ lại dấy binh khởi nghĩa, không thể ngờ những thủ lĩnh dưới trướng hắn vì
chia của không đều, giết hại lẫn nhau để tranh của. Quan quân nhân cơ hội này hợp
vây bốn phía, hai bên ở khe núi huyết chiến một trận tới đen đục cả dòng nước,
Lão Cao Lương Cán Tử trúng tên bị bắt, giải vào kinh thành, bị xử lăng trì vô
cùng thê thảm.
Tôi
nói: “Cũng khó trách, gã kia chỉ biết tạo phản chứ chưa từng ăn qua chén cơm đổ
đấu, hắn không hiểu đường đi nước bước, trộm mộ lấy bảo vật không thể giống với
mở kho phát lương, thấy kỳ trân dị bảo táng theo, cha con anh em cũng còn trở mặt
với nhau, huống chi tay chân của hắn toàn là người nghèo không còn đường sống mới
giết quan tạo phản, có được kỳ trân dị bảo rồi ai còn muốn chém giết quan quân
làm gì?”
Răng
Vàng giục Mã Lão Oa Tử mau nói tiếp: “Huyền cung của Tần vương thực sự đã trống
rỗng sao? Không thể đào ra bảo vật nữa sao?”
Mã
Lão Oa Tử nói: “Đâu chỉ huyền cung không còn bảo vật, ngay cả minh lầu, bảo
thành trên núi cũng bị đốt sạch. Tòa điện lớn chính giữa kia từng được dựng bởi
một trăm sáu mươi cây kim ti nam mộc (là loại gỗ đặc biệt quý hiếm của Trung Quốc),
quân phản loạn đánh tới đó, thiêu rụi quá nửa. Về sau, những cột không cháy hết
cũng bị người ta mang đi bán lấy tiền, thực sự là chẳng còn lại gì.”
Hồi
đó kim ti nam mộc chỉ có rải rác ở nơi rừng già núi thẳm, những nơi sườn núi,
hang vực hiểm trở hiếm có dấu vết con người, chủ yếu là nơi qua lại của mãnh
thú và rắn độc, đặc biệt là những nơi đó có rất nhiều chướng khí ngăn trở, đốn
hạ được vô cùng gian nan. Mang ra được một cây thì không biết có bao nhiêu người
ngã chết. Chờ đến khi vượt sông được rồi, lại phải vận chuyển bằng đường thủy
lên phía bắc, lại không biết bao nhiêu người làm mồi cho hà bá. Một lần vận
chuyển kim ti nam mộc, tiền chuyên chở cũng phải tới ba ngàn năm trăm lượng bạc.
Kim ti nam mộc nước lửa bất xâm, chôn hơn ngàn năm cũng không mục nát. Quân phản
loạn nổi lửa đốt minh lầu bảo điện, kim ti nam mộc trên điện đốt không cháy hết.
Sau này ngay cả xà nhà cột gỗ cũng bị người ta trộm hết.
Lúc
đó loạn như vậy, đạo tặc nổi lên tứ phương, những kẻ xông vào cướp phá bảo vật
không ai khác chính là dân nghèo làm thổ phỉ, một bữa no cũng chưa từng có,
trong mắt chỉ có vàng bạc, nhìn thấy trân bảo rơi vào tay họ cũng không ai dám
làm gì. Anh nhìn cửa điện vô cùng đói kém? Hạn hán triền miên, ba thước đất khô
nẻ. Mặc dù cổ mộ rất nhiều, đào ra không ít trân bảo của các triều đại, nhưng
cho tới nay chưa từng có ai ở đây phát tài. Có lẽ do đời trước không biết kiếm
tiền, đến đời sau vẫn không có cơm ăn như thường. Như năm cuối triều Minh hồi
đó, đồ trộm ra từ trong huyền cung của Tần vương, không ai dám mang bán ra bên
ngoài, dân nghèo không thể có đồ tốt như vậy, mang ra ngoài chắc chắn bị bắt.
Người nghèo lại không biết hàng tốt xấu, trân bảo rơi vào tay, bọn họ chỉ đành
đập vỡ bán đồng nát đổi mấy đồng tiền lẻ. Ăn mày chỉ nghĩ tới bao gạo, bánh bột
ngô, đồ tốt rơi vào tay những người này cũng vô dụng. Vì vậy mới nói vì sao mà
bảo vật vô giá trong mộ từ lúc xuất thổ tới nay qua tay bao người, mãi sau này
không ai rõ tung tích, mười cái thì có tám chín cái như vậy.
Răng
Vàng nói: “Huyền cung của Tần vương lớn như vậy, trân bảo chôn theo nhất định
không ít, có đồ vật gì khác thường không?”
Mã
Lão Oa Tử nói: “Đương nhiên là có bảo vật, cho nên trước đây tương truyền rằng
lúc cung điện bí ẩn của Tần vương mở ra, hàng ngàn hàng vạn quân xông vào, giơ
cao đao thương, bó đuốc, tràn vào cung như nước thủy triều. Truyền thuyết nói rằng
Tần vương lòng tham không đáy, xảo trá đa nghi. Quan quân khởi nghĩa tạo phản bị
giết đa số là kẻ khốn khó liều mạng, ngoài ra cũng có nhiều cường đạo lâm tặc.
Lão Cao Lương Hán Tử mang theo mấy thủ hạ lớn gan đục mở quan tài, đôi mắt tham
lam nhìn chòng chọc vào vàng bạc bên trong. Dưới ánh lửa chiếu sáng, chỉ thấy Tần
vương ngửa mặt lên trời, đầu đội mũ vàng, miệng ngậm minh châu, chân đeo giày
da, người mặc áo quan, trên áo thêu hình núi sông, cây tùng, chim hạc, lưng đeo
đai ngọc, ôm trường kiếm trong ngực, tay nắm đĩnh vàng, mặt đầy vẻ âm dương kỳ
quái!”
Nói
theo thổ ngữ địa phương, Mã Lão Oa Tử là kẻ miệng lưỡi giảo hoạt, nửa lít rượu
cao lương uống xuống bụng liền văng nước miếng khoác lác, chém gió cứ như tận mắt
hắn nhìn thấy vậy: “Trong quan tài, trên người Tần vương phủ một chiếc cẩm bào,
xung quanh đầy bảo vật chôn theo. Quân phản loạn xông vào thấy Tần vương chẳng
khác gì người sống, trên mặt đầy âm dương quái khí, còn tưởng rằng Tần vương đã
biến thành hung thần, vô cùng kinh sợ, không ai dám tiến lên lấy bảo vật. Lão
Cao Lương Cán Tử liền tiến lên, rút trường đao ra, dùng đầu đao khều cẩm bào
trên người Tần vương ra. Không thể ngờ khi hắn vừa vén lên một cái, Tần vương
bên dưới bỗng biến thành bộ xương khô, dọa Lão Cao Lương Hán Tử giật mình kinh
hãi, cẩm bào tuột khỏi đầu đao rơi xuống, bộ xương khô lại biến trở lại thành mặt
mũi như người sống, lúc đó hắn mới hiểu được. cẩm bào kia chính là bảo y!”
Ban
đầu tôi nghe Mã Lão Oa Tử nói còn tạm nghe được, càng về sau quá nửa là chém
gió, nói quàng nói xiên, vòng vo cố làm ra vẻ huyền bí, tôi cũng không muốn
nghe hắn nói liên thiên nữa.
Mã
Lão Oa Tử thấy chúng tôi không tin, không thể làm gì hơn đành nói rằng chuyện kỳ
trân dị bảo trong cung Tần vương kia, tất cả đều là nghe được từ miệng đám Oa tử
chăn dê truyền lại, qua mấy trăm năm, người đã chết hết từ lâu rồi, lời truyền
miệng có thể cũng bị sai lệch đi nhiều rồi, không còn đúng tuyệt đối được nữa.
Nói xong câu này, hắn vào phòng mang ra một cái bọc nhỏ cuốn năm ba lớp, mở từng
lớp từng lớp ra, bên trong là một chiếc bát gốm lớn, lớp gốm mỏng, lớp men
tráng dày, hoa văn xanh như nước, nổi lên hình một con rồng xanh đang giương
nanh múa vuốt.
Hắn
không để chúng tôi chạm vào, tôi sáp lại gần quan sát một hồi, trong bụng giật
mình mấy cái, theo tiếng lóng mà nói, cái này gọi là “Quỷ kiếm nhi thanh” (Mặt
quỷ xanh - Màu xanh của quỷ)!