1.
Vùng
núi đá hiểm trở Tây Bắc có một loại dê rừng, dân địa phương gọi là huyền dương,
số lượng vô cùng ít ỏi, rất hiếm gặp. Máu của huyền dương rất có giá, một con
huyền dương lấy được khoảng gần ba bát máu, rót vào bát để khoảng nửa ngày,
trên mặt bát sẽ nổi lên một lớp mỡ màu xanh, thứ này chính là bảo vật, không những
có công dụng cải tử hồi sinh mà còn có tác dụng cường dương, thái giám dùng
xong cũng có thể cưới vợ. Chính vì vậy mà mỗi khi nơi nào có tin huyền dương xuất
hiện, liền sẽ có cả trăm con mắt soi mói tìm kiếm nó, chưa kể các loài thú khác
cũng săn huyền dương làm mồi, cho nên số lượng ngày một ít ỏi. Số huyền dương
còn sót lại đều bị dọa khiếp không dám ngang nhiên xuất hiện nên rất hiếm khi gặp
được, chỉ có thể trông đợi vào vận may chứ không thể cầu. Nếu như may mắn săn
được một con huyền dương sẽ lập tức phát tài. Còn đối với Phi Mao Sát, lời đồn
đại rất nhiều nhưng người gặp thực sự thì vô cùng ít ỏi.
Mã
Lão Oa Tử ngồi trên lưng Mã Xuyên dẫn chúng tôi theo đường mòn lên núi, xa xa
đã có thể nhìn thấy đỉnh núi đối diện, xưa kia được gọi là “Ngọc hoàng điện”, tục
gọi là đài hoàng đế, chính là vị trí của Tần vương huyền cung. Nơi này vách đá
sừng sững hiểm trở, trông vô cùng kỳ vĩ. Ngọn núi dưới chân chúng tôi nằm ở vị
trí tương ứng với cung án (bàn thờ) của huyền cung nên gọi là “Núi bàn thờ”.
Bàn thờ đối xứng với bảo điện, có thể nói là kiệt tác của tạo hóa, lại có khả
năng tự dấu mình, ở dưới chân núi không thể nhận ra, chỉ còn cách lên núi bàn
thờ mới có thể ngắm nhìn ngọc hoàng điện. Địa thế từ nam sang bắc, dần dần lên
cao, phía sau có núi cao trùng điệp, có thể tựa vào. Địa thế đắc địa như vậy,
người táng ở đó chắc chắn sẽ được cả vạn người cúng tế!
Theo
tục lệ từ xưa, mộ phần của vương hầu lấp cao bao nhiêu cũng phải theo quy củ, vượt
quá nửa thước cũng là có tội. Quy mô của Tần vương huyền cung có lẽ không bằng
lăng tẩm Hoàng đế, nhưng địa thế long mạch không hề thua kém. Lăng tẩm thời
Minh triều quan trọng nhất là địa thế. Cửa, hành lang, tiền đường, minh lầu bảo
thành, tẩm điện tế cung, đều được bố trí theo một trục ở giữa, mặt quay về hướng
nam, lưng hướng về phía bắc, từ dưới lên trên, trước sau theo thứ tự là các
hình rùa, rắn; hai bên trái phải toàn là rồng, hổ. Lăng tẩm đều được bố trí ở gần
sông và xa núi, ngôi thứ rõ ràng, khí thế uy nghiêm, nhìn vào giống như một bức
họa khiến người xem vô cùng cảm thản. Theo như sách “Mười sáu chữ âm dương
phong thủy bí thuật” thì địa thế bố trí lăng mộ, cung điện Tần vương trên núi
chắc cũng tương tự như vậy.
Ở
đây đã từng có thời vô cùng hưng thịnh, trên núi đầy tùng bách bao phủ, chim
thú quý hiếm rộn ràng dạo chơi. Có điều trải qua mấy trăm năm biến thiên của lịch
sử, cây cối và cung điện đã không còn gì, chỉ vẻn vẹn còn sót lại một cái hố lớn,
do đám quân đạo tặc ngày đêm sống chết đào lên, nhìn giống như cả một mảng núi
đã bị móc đi. Giữa hố cỏ dại, gai góc mọc um tùm, thê lương tiêu điều, ngổn
ngang gạch đá. Ngọc hoàng điện vốn dĩ bề thế là vậy mà nay đã bị tàn phá thành
một quả núi hoang.
Đoàn
chúng tôi đi vòng quanh quá nửa quả núi, thấy cái hố này vừa rộng lại vừa sâu,
vùng đất này tuy khô hạn nhưng cũng không phải không có mưa, đáy hố ngổn ngang
đất đá, cỏ dại còn cao hơn người, đi vào nửa bước cũng khó khăn. Răng Vàng
không quen đi đường núi, thở không ra hơi, tôi với Tuyền Béo mặc kệ hắn, vén cỏ
đi thẳng tới trước. Lăng Oa dẫn chúng tôi tới một nơi, giữa bụi cỏ um tùm xuất
hiện một tượng người bằng đá, nó đẩy tượng đá, bên dưới lộ ra một cửa hang, nói
rằng đây chính là chỗ đã kể. Tuyền Béo bật đèn pin, đi vào bên trong nhìn một
vòng, nói rằng sâu không thấy đáy.
Tôi
thầm đoán định chỗ này có thể là đoạn cuối của Tần vương huyền cung, mộ ở đây
có thể được xây bằng gạch, khe hở giữa các đường gạch đại khái là lớn hơn cây
ngải.
Không
hiểu vì sao ở đây lại có lỗ thủng, phía trên còn được bịt kín bằng tượng đá.
Tôi nghĩ chuyện Mã Lẫm sau khi xuống động bị mất tích cũng vốn không có gì khó
hiểu, trong động ứ đọng lâu ngày, uế khí không lưu thông được, người đi vào tới
chỗ sâu rất dễ bị ngạt thở mà chết.
Bỗng
dưng trời nổi một trận gió lớn, cát bay đá chạy, khiến mọi người tối tăm mặt
mũi, từng đợt gió giống như mới từ miếu thổ địa thổi qua, lại thấy mây đen trầm
thấp như muốn trở trời.
Mã
Lão Oa Tử vốn mê tín, sợ kinh động đến quỷ thần, hơn nữa bây giờ sắc trời đã tối,
theo lão thì nếu muốn xuống cũng nên xuống vào ban ngày.
Tôi
lại không nghĩ như vậy, đêm không trăng là đêm để giết người, ngày gió lớn là
ngày phóng hỏa, trộm mộ gặp mưa mới có thể nói là được thiên thời, mưa gió nổi
lên, uế khí trong động cũng tan đi, mới không khiến kẻ trộm mộ bị chết ngạt.
Mã
Lão Oa Tử nói: “Nửa đêm trời tối đòi chui xuống đất? Không sợ chết sao?”
2.
Răng
Vàng nói: “Hồ gia của chúng ta từng làm Đại đội trưởng rồi, gan góc phi thường
đó.”
Mã
Lão Oa Tử nói: “Đại đội trưởng, Đại đội trưởng, ha ha bằng nửa Hoàng thượng rồi
đó, đại pháo vừa nổ là có ngay vạn lượng hoàng kim!”
Tôi
nói: “Mẹ kiếp! Móc đâu ra vạn lượng hoàng kim? Nghèo như con chuột gặp xà nhà,
ngược lại thì đúng hơn.”
Mã
Lão Oa Tử nói: “Vốn dĩ người nghèo bọn ta cũng là do các cậu ban phước mà sinh
ra vậy!”
Trời
u ám tới nửa đêm, sau cuồng phong, trên trời sấm lại nổi ầm hầm, hạt mưa lớn
như hạt đậu tí tách rớt xuống, rồi màn mưa đen nhánh bao trùm tất cả, chốc chốc
có một tia chớp xẹt qua, thoáng phản chiếu một khuôn mặt người rầu rĩ, chán nản.
Mã
Lão Oa Tử bị què một chân, không chui xuống đất được, hắn nói để Mã Xuyên đi xuống
cùng tôi, nhặt vài món minh khí. Tiểu tử Mã Xuyên là kẻ nhát gan, mới có mấy tiếng
sấm nổi lên mà gã đã tim đập chân run, mặt như màu đất. Có câu nói: “Một cây
táo có quả chua, quả ngọt; con cùng một mẹ cũng có kẻ lừa gạt, có người thật
thà”, huống chi Mã Xuyên và Mã Lẫm đều là do Mã Lão Oa Tử nhặt về, vốn không phải
là anh em ruột, nên tính khí hoàn toàn không giống nhau.
Tôi
nói với Mã Lão Oa Tử: “Tôi nhận không ra bên dưới có phải là nhà trẻ hay không,
mang một đứa con nít xuống chỉ rước thêm phiền toái, thà rằng để nó ở bên trên
kéo dây cho tôi còn hữu ích hơn!” Sau đó nói Răng Vàng đợi ở trên, tôi cùng với
Tuyền Béo nhất tề động thủ, thả một sợi dây xuống. Tôi đeo đèn lồng vỏ giấy
trên người, xòe dù kim cương, dẫn đầu xuống dưới động, phía dưới cũng không sâu
lắm nhưng cảm giác dưới chân thô ráp, dùng đèn lồng vỏ giấy soi xuống thì thấy
toàn là gạch khối, rêu phong loang lổ, bốn phía không thấy điểm cuối. Từng cơn
gió lạnh thổi qua, đèn lúc sáng lúc tối nhưng cũng chưa tắt hẳn. Tôi mở đèn pin
lên, đi vòng quanh mấy vòng. Tuyền Béo ở trên thấy có ánh sáng đung đưa cũng đu
dây xuống theo.
Tuyền
Béo xuống tới nơi, đốt một cây đuốc, phía trước mặt sáng sủa hơn rất nhiều. Hai
người liều lĩnh đi vào sâu hơn, mò được bờ vách đá, cảm giác có mùi mục nát
xông vào mũi. Tôi nhấc đèn pin lên xem thử, vách tường bằng đá, toàn loại bốn
mươi cân một khối, lại dùng ba loại đất chát lên, vững chắc dị thường. Nơi
chúng tôi thả mình xuống, hình như là một ngôi mộ trong Tần vương huyền cung,
bên trong mộ rất rộng rãi, năm đó phản quân phá hủy huyền cung có lẽ chưa đào tới
đại điện tận cùng phía sau huyền cung này. Ngôi mộ kiên cố, không tìm thấy đường
ra, bên dưới vách tường có mấy rương đồ thờ cúng, làm bằng gỗ đàn hương, bên
ngoài mạ đồng, màu đỏ đã phai, ván gỗ mục nát, bên trong lẽ ra phải có năm phần
đồ cúng nhưng hiện giờ trống không. Nhìn sang bên cạnh thì thấy một bộ tử thi
ngồi dựa vào vách đá, hông đeo thắt lưng màu đỏ, toàn thân khô đét đã chuyển
thành màu đen, bên cạnh vứt mấy cái bao tải, lối ăn mặc gần giống với Mã Xuyên,
không cần hỏi cũng biết đây chính là Mã Lẫm xuống tìm bảo vật.
Tuyền
Béo nói: “Oa tử chăn dê vì sao lại chết ở đây chứ? Không biết hắn có nhặt được
thứ đồ gì ra hồn không” nói xong hắn lại gần dở xem mấy bao tải rớt dưới đất,
bên trong toàn là đồ kim khí trong Tần vương huyền cung, vàng, ngọc cũng phải đến
mười bảy, mười tám món.
Tôi
vừa định nhặt cái bao lên liền nghe thấy tiếng rít của rắn, trên vết nứt ở vách
tường đá thò ra một cái đầu dẹt ba sừng, ánh sáng đèn pin chiếu vào vảy nó liền
ánh lên màu sắc sặc sỡ. Quan Trung có một loại rắn, tục gọi là “Lạc thiết đầu”,
bị nó cắn trúng thì khó mà toàn mạng. Tuyền Béo nhanh tay lẹ mắt, vung cây đuốc
trong tay về phía trước dọa con Lạc thiết đầu chạy mất. Tôi nghĩ Lạc thiết đầu ở
đây chắc hẳn không chỉ có một con. Trên đỉnh đầu lại có đá vụn rơi xuống, sợ rằng
ngôi mộ sẽ sụp xuống, tôi liền dùng dây bó thi thể Mã Lẫm lại, Tuyền Béo lượm mấy
bao tải kia, hai người vội lôi thi thể ra ngoài.
Mã
Lão Oa Tử nằm trên đống bao bố khóc rống lên, mặc dù Mã Lẫm chỉ là cô nhi do
lão nhặt về nhưng có lẽ vì lão đã nuôi nấng cậu ta từ nhỏ nên cũng có chút tình
cảm. Bất chợt tôi cảm giác tiếng khóc của lão có chút bất thường. Bầu trời
không mưa bỗng nổ một tiếng sấm khô khốc! Tôi tự nhủ không hay rồi, quay đầu lại,
đúng lúc một tia chớp lóe lên, trong mắt tôi bây giờ là một màu ảm đạm, chỉ thấy
Mã Lão Oa Tử đang giơ súng săn đã tra thuốc lên, nhắm ngay vào tôi định bắn!
Trong lòng tôi chợt lóe lên một ý niệm, Mã Lão Oa Tử này thấy tài vật liền nổi
lòng tham, nhưng dù không muốn chia chác minh khí với chúng tôi, hắn cũng không
cần thiết phải làm như vậy, hắn thật sự muốn giết người diệt khẩu sao! Tia chớp
vừa vụt tắt, trên trời lại nổ ẩm một tiếng, gần như cùng lúc súng trong tay Mã
Lão Oa tử cũng khai hỏa, Mã Xuyên ở bên cạnh cũng đã nhồi xong thuốc súng. Tôi
muốn tránh cũng không kịp nữa rồi, vội mở dù kim cương, hai khẩu súng săn nổ
cùng lúc, đạn chì ghim hết vào tán dù kim cương. Máu nóng toàn thân tôi lúc này
đã xộc lên não, trong lòng chửi thầm: “Hai đứa khốn kiếp các người với ta không
thù không oán, chỉ vì mấy món đồ cúng người chết mà lại ám toán sau lưng ta,
không phải may mắn trời đột nhiên nổi sấm sét, cộng thêm có dù kim cương thì chẳng
phải ta đã biến thành quỷ chết oan rồi sao?”
Làng
quê này là vùng đất cằn cỗi, nghèo xơ nghèo xác, vì thế nên lòng người cũng
sinh ra hiểm độc, vì tiền có thể sẵn sàng giết người không gớm tay, lẽ ra tôi
không nên chủ quan như vậy mới phải, thành ra đi bắt nhạn lại bị nhạn mổ vào mắt!
Khoảng cách quá gần tôi cũng không thể làm gì hơn, dù kim cương trúng đạn, phản
lực không hề nhẹ, tôi mất đà bị đẩy lùi về sau một bước, chân đạp trúng vào khoảng
không rơi trở lại cửa hang. Lúc đó thân thể còn đang lơ lửng giữa không trung,
trước mắt là một màu đen kịt, nghĩ rằng phen này chắc tan xương nát thịt mất rồi
thì lại nghe “ầm” một tiếng, rơi trúng người Tuyền Béo. Mặc dù có dù kim cương
trên tay làm giảm lực bay nhưng rớt xuống vẫn không dễ chịu chút nào, trước mắt
tôi trời đất như quay cuồng, sao bay loạn xạ.
Tuyền
Béo nói: “Lão Hồ sao anh lại xuống đây? Ôi trời! Người tôi ê như bại liệt rồi
—— anh đúng là đồ hại người!”
3.
Tôi
chưa kịp giải thích, đã thấy Răng Vàng rớt từ bên trên xuống trúng dù kim
cương, lăn sang bên cạnh, hắn bị ngã một cú trời đất quay cuồng, luôn mồm than
khóc: “Ai da cái mông tôi, thằng Mã Lão Oa Tử khốn kiếp!”. Vốn dĩ Răng Vàng ở
bên trên thấy Mã Lão Oa Tử đột nhiên động thủ, sợ đến ngây người, trời mưa lớn
như vậy, súng săn của Mã Lão Oa Tử nhồi thuốc bắn một lần thì không xài tiếp được
nữa, lão liền lôi đao ra, hùng hổ hỏi: “Mày có xuống hay không? Không muốn xuống
thì để tao thử cây đao này luôn thể!” Răng Vàng cắm đầu muốn chạy, bị Mã Lão Oa
Tử đạp một đạp vào mông ngã nhào xuống hang. Vừa dứt lời, sợi dây thả xuống động
đã bị Mã Lão Oa Tử kéo lên.
Tuyền
Béo lúc này mới hiểu, ngẩng đầu lên chửi: “Con lừa già kia đừng có chạy, mày có
lên trời tao cũng lôi mày xuống cho xem!”
Chưa
mắng hết câu lại nghe một tiếng nổ rền vang như sấm. Hóa ra là Mã Xuyên bên
trên kích nổ “Băng sơn pháo”, là loại pháo dùng để phá núi. Mã Xuyên là đứa trẻ
dốt nát, ngờ nghệch, Mã Lão Oa Tử bảo hắn làm gì thì hắn làm nấy, không những
đã kéo mất sợi dây lại còn đánh sập cửa hang, quyết chôn sống bọn chúng tôi. Giữa
tiếng sấm rền vang, đất đá ào ào trút xuống, ba người chúng tôi ôm đầu né
tránh, lùi tới bên dưới vách đá. Tôi sợ bị Lạc thiết đầu cắn liền vội mở đèn
pin, tranh thủ chút ánh sáng nhìn xung quanh một chút, trên mặt hai người kia
ngoam nguếch toàn là đất và máu, tôi đoán chừng trên mặt tôi bây giờ chắc cũng
như vậy, đưa tay quệt một cái, bầm ruột chửi thầm: “Con lừa Mã Lão Oa Tử vô
danh vô học kia, làm việc thất đức rồi sẽ có ngày tuyệt hậu! Chờ ngày tao ra
ngoài rồi cũng chính là ngày hạn của mày!”
Tuyền
Béo không cam tâm, lôi cả mười tám đời nhà Mã Lão Oa Tử ra, lần lượt chửi từng
người từng người một.
Tôi
nói: “Anh có mắng ba ngày ba đêm thì lão cũng không mất một cọng lông nào đâu,
ra ngoài trước rồi tính.”
Tuyền
Béo nói: “Làm sao ra ngoài bây giờ? Đào hầm cũng không ổn, chẳng may sập hầm
không phải Răng Vàng sẽ bị chôn sống sao.”
Răng
Vàng nói: “Tôi đâu có trêu ghẹo ai mà đáng chết hả? Hơn nữa cái hầm này sớm muộn
gì cũng sập thôi, tới lúc đó rồi không phải là ba người chúng ta cùng “đồng quy
vu tận sao”?”
Tuyền
Béo nói: “Anh đi mà chết một mình đi, “có cô thì chợ thêm đông, cô đi lấy chồng
thì chợ vẫn vui”, dù nói thế nào đi chăng nữa anh cũng là người thừa ra.”
Răng
Vàng nói: “Tuyền Béo anh còn không biết tôi là loại người như thế nào sao? Tôi
một lòng trung thành với anh và Hồ gia như là dao găm bên sườn, sao lại có thể
nói là dư thừa chứ? Đúng rồi, tôi nhìn Mã Lão Oa Tử nhặt được một túi minh khí,
mười bảy, mười tám món toàn là đồ tốt!”
Tuyền
Béo nói: “Anh xem tình trạng của anh bây giờ thế nào, vẫn còn tâm trí nghĩ đến
đồ nữa sao? Bây giờ nói thẳng ra là ăn phân cũng thấy ngon, ngửi rắm cũng thấy
thơm! Anh đừng trách tôi nói năng khó nghe, sự thật thường mất lòng! Nói ngọt
như mật ong mà chui lên khỏi được hai dặm đất thì tôi cũng làm. Giờ việc quan
trọng nhất là làm cách chó chết nào để ra, anh có biết không?”
Răng
Vàng vội hối lỗi, đáp liên tục: “Được rồi, được rồi không nói chuyện nhặt đồ nữa....”
Tuyền
Béo nói: “Không nhặt đồ cũng không được, nói đi cũng phải nói lại, chúng ta ăn
chén cơm này tối kỵ việc đi không về rồi, đi không nhặt được đồ sẽ vô cùng bất
lợi, bất kể thể nào cũng không thể ra ngoài tay không được. Bàn gia tôi nói
chuyện không quan tâm nặng nhẹ, nhưng đã nói là phải có lý lẽ! Ngày có đạo của
ngày, người có lý của người, Vì sao phải nhặt, mà không nhặt thì lại bởi vì
sao, đều có đạo lý của nó!”
Lúc
nói chuyện, tiếng đất lở trên đỉnh đầu vẫn đều đặn rót xuống, tôi sợ mất hết hồn
vía, định tìm đường ra ngoài nhưng nhìn quanh bốn phía đều là vách đá, không có
lối đi nào khả dĩ. Vừa rồi đất đá sụp xuống, lạc thiết đầu đều bị dọa sợ chạy mất,
hồi lâu cũng không thấy bóng dáng. Huyền cung này quả thực có nhiều điểm kỳ
quái, nước mưa từ cửa động chảy xuống khá nhiều nhưng dưới chân lại không có nước
đọng. Tôi chờ cho Tuyền Béo với Răng Vàng cãi nhau xong mới đi xung quanh xem kỹ
một chút, hi vọng có thể tìm ra đường ngầm. Tuyền Béo tìm quanh chỗ góc tường
có thi thể lúc trước, nhặt được một cây đuốc còn có thể cháy tiếp. Qua ánh lửa
lập lòe mông lung, bóng dáng ba người nhìn cũng mịt mờ, bất định.
Tôi
tìm được ở cuối vách đá có khe nước chảy qua được, bùn đất không ngừng chảy xuống.
Tôi
giơ tay gạt bụi đất trên vách, phát hiện vách đá lồi lõm giống hoa văn, giơ cây
đuốc lên nhìn thử, thì ra là một cánh cửa đá của địa cung. Địa cung mặt hướng
nam, lưng quay về hướng bắc, khí thế nguy nga. Trên cửa có đinh đá và vòng cửa,
đinh này được gọi là “nhũ đinh” vì hình dáng tương tự như đầu vú phụ nữ, vòng cửa
được ngậm trong miệng thú. Cửa đá được người dùng một khối đá lớn khéo léo chế
tác mà thành, phía trên có trạm trổ long xà, kỳ lân, hải mã, nóc cửa đá còn có
hình tiên nhân cưỡi hạc.
Cửa
đá huyền cung đóng rất khít, không có dấu hiệu từng bị cạy mở. Ba người dồn hết
sức vào bầu sữa mẹ trên cửa, vai đẩy chân đạp cửa đá mới chậm rãi hé dần ra.
Bên trong cánh cửa là một hành lang vô cùng lớn, dốc xuống dưới, toàn bộ hành
lang đều được xây bằng đá, phía trên hai bức tường đá dựng đứng là vòm hành
lang cuốn hình vòng cung, khiến cho người đi vào trong đó giống như đi vào một
tòa cung điện rộng lớn, thần bí, nó tồn tại một loại khí thế bức người, khiến
cho người ta hô hấp không thể bình ổn.
4.
Tôi
bước vào, soi đèn pin lên vách đá, chỉ thấy trên các khối đá lớn màu xám đều có
khắc hoa văn hình chữ “vạn - 万”
thầm giật mình, địa cung này là thế nào đây? Chính là huyền cung Tần vương
trong truyền thuyết sao? Vừa nghĩ tới huyền cung Tần vương, cằm tôi nếu không
dính chặt trên miệng có lẽ đã bị rớt xuống đất. Vào những năm cuối triều Minh,
huyền cung Tần vương đã bị loạn quân đào bới, cung điện ở trên núi cũng bị hủy
diệt, long mạch đã không còn, chỉ còn sót lại trăm hầm ngàn hố như tổ mối trên
đất mà thôi, vậy mà hiện giờ nơi chúng tôi đang đứng ở dưới lòng đất lại có một
tòa địa cung hoàn toàn không bị tổn hại chút nào! Mấy trăm năm về trước đạo
quân phá huyền cung Tần vương vì sao lại bỏ qua địa cung này chứ?
Tôi
nói với Tuyền Béo và Răng Vàng chuyện tôi luôn đau đáu từ lâu. Những hố đào lớn
trên đỉnh núi mặc dù đã rất sâu nhưng thực ra chưa đáng là bao so với địa thế của
núi này, Tầm Long Quyết có nói “Thanh Long nhập địa nhi huyền, thâm bất khả tri
dã” (Mạch rồng khi nhập xuống đất thì trở nên huyền bí, sâu kín khó tường). Tần
vương chọn huyền cung là địa cung chắc hẳn là đã tính toán vị trí đặt mộ phần
phải thật sâu dưới lòng đất, ít nhất cũng phải là đáy quả núi này mới tương xứng
với địa thế của huyền cung, nói không chừng còn là “Cửu trọng huyền cung” (huyền
cung chín tầng)! Thời phong kiến, hoàng đế băng hà thì không được gọi là chết
mà phải nói là đại hành, cưỡi rồng thăng thiên. Tần vương vốn xem trọng đại
hành không kém gì hoàng đế, dùng huyền cung làm lăng mộ, huyền cung vừa vặn cân
xứng với pháp cung, chín tầng bằng đá khối, ba khối đá là một trọng, ba trọng
là một tầng, hai tầng bên trên đều là mộ giả, chỉ có quan quách và minh khí. Số
loạn quân kia vốn xuất thân là nông dân nghèo khổ, chân đất mắt toét, phần lớn
chưa từng thấy qua cảnh đời nói gì tới kiến thức đạo mộ. Có lẽ cũng đào bới được
một vài mộ giả, tưởng rằng đào sâu như vậy vốn dĩ đã hết rồi, không thể ngờ huyền
cung của Tần vương quy mô lại lớn như vậy, bên dưới huyền cung còn có một tầng
nữa, đây mới thật sự là quách thất (phòng để quan tài)!
Răng
Vàng vỗ đùi: “Ha ha! Tôi nói trúng phóc rồi nhé, Hồ gia anh đúng là gặp vận lớn!
Trước đây tôi còn nói, vào núi đổ đấu gặp mưa gió là đại phát, chính là điểm
báo trước vận số của chủ mộ kia đã hết, quá nửa sẽ có đồ xuất thổ! Xưa có câu
thế này “long hành hữu vũ, hổ hành hữu phong” (rồng bay sinh mưa, hổ đi sinh ra
gió). Nơi cửa điện này quanh năm ẩm thấp lại chẳng được trùng tu bao giờ, trận
mưa vừa rồi sớm không tới, muộn không tới mà lại chờ đúng lúc mấy anh em ta lên
núi mới ập xuống, đây chẳng phải điểm bất thường thì là gì? Tôi dám lấy đầu ra
cược, trong quan quách của Tần vương nhất định là có bảo vật vô giá! Hồ gia anh
là người hiểu biết, tên tiểu tử chăn dê ngoài cửa điện kia không phải kẻ bất
tài, tổ tông nhà lão đời nào chẳng đào mộ? Anh không ra tay, đến khi tin tức lộ
ra, trân bảo chôn theo quan quách Tần vương cũng chẳng thể bảo toàn! Đồ trong tầm
tay chúng ta, không thể để bọn Mã Lão Oa Tử ẵm tay trên được?”
Tuyền
Béo nói: “Răng Vàng nói đúng lắm, anh không muốn thì kẻ khác cũng lấy, anh đành
lòng nhìn tên tiểu oa tử chăn dê đó mang đồ đi sao? Minh khí rơi vào tay người
khác thì không nói, rơi vào tay Mã Lão Oa Tử, anh không thấy mắc ói sao? Nói thật,
tôi vốn cũng không muốn làm cái nghề này, nhưng đã sa chân xuống rồi thì phải
đi cho hết, muốn leo lên cũng chẳng có chỗ móc dây mà trèo lên, người đã sa xuống
giếng rồi, mà vẫn muốn lỗ tai được thông sao?”
Tôi
nói: “Anh không cần phải lải nhải khích tôi, đã ăn chén cơm đổ đấu này, thấy hầm
đất mà còn không dám vào sao? Có điều tôi nói hai câu này các anh phải nhớ cho
kỹ —— “lưu đắc xanh sơn tại, bất phạ một
sài thiêu, gia cường kỷ luật tính, đảo đấu vô bất thắng” (Núi xanh vẫn còn,
không sợ không có củi đốt, tăng cường tính kỷ luật, đổ đấu không thể không thắng)!”
Răng
Vàng nói: “Lời của Hồ gia một câu đổi mười ngàn câu, câu nói thật sắc mà lại do
anh nói ra thì ý nghĩa càng thâm sâu hơn bội phần, càng nghĩ càng thấy thấm, chỉ
cần nghiền sâu ngẫm đúng đủ cho tôi dùng cả đời, đúng là —— lời ít nhưng đạo lý
sâu, vô cùng ảo diệu!”
Tuyền
Béo nghe không nổi nữa nói: “Răng Vàng anh dù gì cũng là hán tử lông dài đầy ngực,
anh còn muốn hay không muốn cái mặt của mình thế? Có phải hắn đánh rắm anh cũng
ca tụng thành tiếng sấm giữa trời quang không?”
Vừa
nói chúng tôi vừa đi vào bên trong, xuống qua ba tầng bậc thang thì nhìn thấy mội
ngôi điện, hai bên có có hai chiếc cột lớn rồng lượn cuốn quanh. Trong điện âm
u không đèn đuốc, trống trải, tĩnh mịch như đêm ba mươi lại tối tựa như canh
năm.
Ba
người đi vào địa cung vắng vẻ, nương theo ánh sáng đèn pin thăm dò xung quanh,
trong bóng tối dường như có một thứ áp lực vô hình uy hiếp, bốn xung quanh
chúng tôi đều một màu đen kịt âm u lạnh lẽo, xộc vào mũi là thứ mùi ẩm mốc, mục
ruỗng. Càng đi sâu vào huyền cung cảm giác càng bức bách, khó chịu. Đi tới cuối
điện lại gặp một khung cửa hình vòng cung do một khối cẩm thạch lớn đẽo thành,
bên trên xếp một hàng chín mươi chín chiếc đinh ngọc, có lẽ là cửa trong của
huyền cung. Hai bên cửa vòm có khạp thờ hình rồng xanh thắp trường minh đăng
(đèn thắp suốt ngày đêm), mấy pho tượng linh thú trấn điện đứng đối xứng nhau.
Hai bên cửa đá bạch ngọc đều có một đài sen, trái phải bày ra hai cỗ quan tài lớn
phủ đầy bụi bặm và mạng nhện. Phủi sạch bụi bặm thấy lộ ra đầu quan tài màu đỏ
thắm.
Tuyền
Béo hỏi Răng Vàng: “Sao lại có hai cái quan tài thế này? Tần Vương lão bánh
trưng* là cái bên phải hay bên trái? Còn lại một cái khác là để làm gì đây?”
*Tiếng
lóng chỉ thi thể Tần Vương.
Răng
Vàng nói: “Thi hài chủ mộ làm sao có thể đặt khơi khơi trước cửa điện như vậy?
Quan quách lim hương (một loại lim có mùi thơm đặc biệt quý hiếm) này là của
phi tần tòng táng*.”
*Tòng
táng: Được chôn theo chủ mộ.
Tôi
không thể không nể phục Răng Vàng, đừng coi thường hắn là người không ra gì,
nhãn quan của hắn hiếm kẻ bì kịp, hắn không cần cầm đồ lên xem, chỉ cần dùng
mũi hít ngửi cũng có thể ngửi ra được là mùi quan quách lim hương.
Tuyền
Béo đi tới bên cạnh, thò tay mở nắp quan tài, định xem thử bên trong có đồ gì.
Răng
Vàng kinh hãi nói: “Không được! Quan quách của phi tần không động vào được!”
Tuyền
Béo nói: “Đừng có mà thần hồn nát thần tính, Ông đây tò mò mở ra xem một chút
chứ có quái gì mà làm như đỉa phải vôi thế?!”
Răng
vàng nói: “Phi tần chết ngạt trong quan quách nhìn vô cùng khó coi, đáng sợ lắm!”
Tuyền
Béo nói: “Bảo anh thu minh khí chứ không phải bảo anh đi ôm người thân của lão
bánh trưng kia mà lo xấu với chả đẹp?”
Răng
Vàng nói: “Khi chôn cất hoàng đế đại hành sẽ trói chân tay của phi tần rồi bỏ
vào quan quách, sau đó nắp quan tài sẽ bị đóng chặt bằng đinh, mang vào địa
cung chôn theo hoàng đế, Quan quách chôn sống phi tần không có bất kỳ món đồ
trang sức táng theo nào, trong quan quách phi tần tòng táng rất ít khi có trân
bảo, cùng lắm là được trùm lên mấy tầng lụa vàng. Trong đó toàn là ma quỷ chết
oan làm gì có cái gì mà nhìn?”
Tuyền
Béo không quan tâm phi tần tòng táng có oán khí hay không, nhưng hắn vừa nghe
qua trong quan quách không có minh khí cũng hết hứng thú. Hắn lại hỏi Răng
Vàng: “Tần vương huyền cung lớn như vậy, quan quách tòng táng theo sao lại
không có vài món minh khí được chứ?”
Răng
Vàng nói: “Không có kỳ trân dị bảo chôn theo đâu, mà cho dù là có cũng phải là ở
bên cạnh Tần vương.”
Tuyền
Béo nói: “Ha Ha! Anh biết tính tôi rồi sao không nói sớm?”
Nói
xong hắn đẩy cửa điện ra, bên trong cửa điện cẩm thạch màu trắng đã đặt chốt chống
cửa nên mặc cho bên ngoài dùng sức thế nào cũng không làm sao đẩy ra được.
Hắn
lấy ra thanh xuyên cửa, chọc vào khe giữa hai cánh cửa, vừa đẩy vừa xoay, một
lúc sau thì đẩy bung được cái chốt đá. Tuyền béo đẩy cửa điện ra, tôi len người
vào chính điện.
Nơi
này còn được gọi là quách thất. Huyền cung Tần vương được bố trí giống với lăng
mộ vua chúa triều Minh, quách thất là nơi xếp đặt quan tài, kích thước tương đối
nhỏ. Vừa mở cửa điện, bên trong tối tăm lạ thường, dưới ánh sáng đèn pin, bụi bặm
đang trôi lơ lửng trong không khí khẽ lay động, trong phòng trống rỗng, chung
quanh bốc lên một thứ mùi ẩm mốc, thối rữa xộc thẳng vào đầu, chúng tôi không
làm sao xua đi được. Xung quanh yên lặng như tờ, ngay cả tiếng vang của bước
chân cũng khiến cho người ta phải giật mình phát sinh cảm giác mông lung, bất
an không làm sao hình dung nổi ngấm thẳng vào tận xương tủy, da nổi da gà, cảm
giác toàn thân lạnh toát, xuyên gan thấu mật.
5.
Tôi
đang lần mò đi về phía trước, đột nhiên phát giác có thứ gì đó đang treo lủng lẳng
trước mặt, vị trí rất gần với cửa điện, nếu đi tiếp phía trước sẽ đụng trúng.
Tôi nghĩ chắc là bồ hóng đóng trên mạng nhện lâu ngày, chưa kịp giơ đuốc lên
soi, giơ tay khều thử, vật kia lắc lư vài cái, trên đỉnh đầu tôi phát ra mấy tiếng
“kẽo kẹt kẽo kẹt”, trong đại điện âm u nghe rợn cả tóc gáy.
Ba
người chúng tôi ngẩng đầu lên nhìn, lông tóc dựng đứng cả lên, thực ra chẳng phải
là bồ hóng gì hết, trên hốc cửa chính điện đang treo lơ lửng một cung nữ tóc
dài bù xù, hai chân buông thõng giữa không trung, lúc ẩn lúc hiện ở dưới cổng
vòm.
Thi
thể treo dưới cổng vòm, toàn thân vận đồ cung nhân, áo dài đã biến thành đen
sì, mái tóc dài xõa xuống che đi khuôn mặt, bụi bặm phủ đầy, trước ngực còn buộc
một bọc lụa vàng, là dùng dây đai lưng tự thắt cổ, treo ở trong địa cung không
dưới mấy trăm năm, mũ phượng đã rớt xuống đất. Vì bị treo nhiều năm nên thi thể
cũng bị kéo dài ra rất nhiều, tứ chi khòng khoèo, lại thêm mái tóc dài bù xù, bất
ngờ nhìn thấy ở huyền cung tối tăm này thật có thể khiến cho người ta vỡ tim mà
chết.
Thi
thể cung nữ treo trên cửa điện vừa đụng trúng tôi thì lung lay mấy cái giữa
không trung, đai ngọc thắt cổ đột nhiên bị đứt, thi thể rớt xuống trên mặt đất.
Có điều cái đầu bị mái tóc lòa xòa phủ kín thì vẫn treo lơ lửng trên cao, không
ngừng đung đưa như quỷ sống.
Sân
khấu hí kịch ở Quan Trung có tám tuyệt kỹ lớn, nói đến kỹ năng dọa người, đáng
sợ nhất phải kể đến tuyệt kỹ treo thi thể, thường gọi là “đại thượng điếu”
(treo người lên), trước kia đã từng hù chết trẻ con, các bạn thử nghĩ xem thi
thể theo trên sân khấu hí kịch đã đủ dọa chết người, huống chi là một cái tử
thi thực sự đang treo lủng lẳng như vậy?
Tuyền
Béo nói: “Thật là đồng cỏ lắm rắn, ổ sói thì chó nhiều, bánh trưng trong mộ cổ
cũng nhiều thật đó, trên cửa cũng treo một cái, cái này là để hù dọa dân đổ đấu
phải không? Chúng ta không có chuyện sẽ không lên tam bảo điện, có việc mới vào
cửa này của ngươi, ngươi cho ta vào đàng hoàng thì được, cứ gây chuyện lằng nhằng,
ông đây móng lừa đen ra hỏi thăm ngươi!”
Răng
Vàng khiếp sợ, toàn thân toát mồ hôi lạnh, không ngờ vừa mới vào chính điện đã
đụng phải một màn như vậy, hắn nghĩ con đường kiếm minh khí có lẽ khó mà hanh
thông rồi. Đột nhiên thấy trong bọc lụa buộc trên người cung nữ vận cẩm bào rơi
ra một cái hộp sắt mạ vàng, hắn cúi đầu xuống nhìn thử, ngạc nhiên nói: “Ban
đêm tôi mơ thấy cửu cung nương nương hiển linh, nói tôi phúc lớn, mạng lớn, vận
may lớn, gặp dữ hóa lành, gặp nguy thành an, tương lai nhất định sẽ thăng quan
tiến chức nhanh chóng, vạn họa đều tiêu, giàu sang vô hạn, đúng là ứng ở đây rồi!”
Tôi
hỏi hắn: “Cửu cung nương nương không nói với anh là anh đang nằm mơ không?”
Răng
Vàng nói: “Không nói, nhưng tôi có thể nhận biết được.”
Ta
nói: “Tự mình biết được mình đang nằm mộng sao? Có gà gáy là trời sáng, mà gà
không gáy thì trời vẫn sáng, có phải phát tài hay không cũng không phải do cửu
cung nương nương hiển linh báo mộng.”
Răng
Vàng nói: “Được rồi, là do tôi lỡ miệng, đúng ra phải nói cả ba chúng ta cùng
phát tài chứ gì? Tôi nói cho hai người các anh biết đại tỷ treo trên cửa điện
kia không phải cung nữ, đây là một “phủng bảo quan” (Người nâng bảo vật)!”
Tương
truyền hoàng đế sau khi hạ táng sẽ lấy cung nữ tâm phúc táng theo. Trên thực tế
không hề có chức quan như vậy, cung nữ tòng táng thời cổ đại văn bản cũng giống
như minh khí, cung nữ cùng với đồ chôn theo sẽ cùng theo quan tài tiến vào địa
cung, đến khi địa cung đóng chặt lại, nàng ta hoặc ngậm tiền hoặc tự vẫn đều chết
ở bên trong.
Tôi
cùng với Tuyền Béo nghe Răng Vàng nói những chuyện ly kỳ như vậy thì vô cùng ngạc
nhiên, Dùng đèn pin soi thử hộp sắt mạ vàng, chỉ thấy hai mặt trên dưới hộp đúc
hoa văn, chính diện có hình một vị thần móng hổ đầu người, phía trên có chín
cái đầu người đàn ông, dưới đáy cũng có chín đầu một thân, thân là một con rắn,
do đầu của chín cô gái ghép lại mà thành. Mở hộp sắt ra, bên trong cũng có những
hình vẽ kỳ dị giống như vậy, bên trên là chín con rồng rắn, chính giữa là thần,
chim, hươu đầu đuôi giáp nhau, lượn vòng hợp nhất, dưới có một quan hai con quỷ,
tôi chưa từng thấy qua. Có điều bên trong hộp sắt mạ vàng cũng không có để đồ.
Răng
Vàng nói: “Anh khoan hãy nói Răng Vàng tôi vô dụng, các anh chưa từng thấy qua
nhưng tôi thì có, người chín đầu thú gọi là “lục ngô”, mặt người nhưng móng hổ,
hung ác đa nghi, thiên về bảo vệ bí mật, thân rắn chín đầu gọi là “bành họa”, mặt
người mà thân hươu, tham lam thành tính, thiên về trấn thủ kho báu. Kỳ trân dị
bảo trong địa cung này chưa từng xuất thế, nói không chừng là thứ đồ vật kinh
thiên động địa, không ở đây thì cũng trong quan tài, cơ bản là không thể thoát
được bàn tay chúng ta, có hai người các vị ra tay cộng thêm cái đầu của Răng
Vàng tôi coi như là bảo hiểm gấp đôi, còn lo không tìm ra được sao?”
6.
Tuyền
Béo là ăn mày bóc tỏi – kẻ nghèo có toan tính của kẻ nghèo, chuyện hôm nay chớ
để ngày mai. Hắn nhặt hộp sắt mạ vàng nhét vào túi sau lưng, còn không quên lý
sự: “Mô kim hiệu úy ở trong mỗi cổ mộ chỉ lấy một món minh khí, có điều túi đựng
bên ngoài cũng không thể coi là vật ở bên trong, giống như anh đi mua giày,
không có hộp đựng vẫn là một đôi giày, có hộp đựng thì không phải là một đôi
giày sao?”
Tôi
nói: “Anh kiềm chế nói nhảm cho tôi, coi chừng dưới chân, đừng chỉ chú ý đào
minh khí.”
Tuyền
Béo nói: “Não phía sau gáy tôi còn lợi hại hơn mắt nhiều, đợi lát nữa anh xem,
nếu tôi không mang chút ngón nghề ra cho Răng Vàng xem thử, hắn còn tưởng rằng
tôi chỉ là kẻ hành nghề là ăn cơm trắng (ý chỉ vô dụng)!”
Tuyền
béo vừa nói vừa đứng dậy, tiến về hướng tới quan tài trong phòng, có điều thi
thể phủng bảo quan treo ở dưới mái vòm mấy trăm năm, mục rữa đã lâu lại bị đung
đưa, thi thể rơi xuống đất, đầu người vẫn còn treo trên đai ngọc, buộc vào xà cửa,
giữa không trung không ngừng phát ra những tiếng “kẽo kẹt kẽo kẹt”, lúc ẩn lúc
hiện. Lúc này đầu người cung nữ lung lay mấy cái rồi cũng rơi xuống.
Răng
Vàng đi qua dưới cửa, đầu người cung nữ liền rơi ngay xuống người hắn, khiến
cho hắn sợ són đái, sợ bị đầu người kia cắn cho một cái, vội vàng vung tay gạt
sang một bên. Mái tóc dài cuộn lấy đầu người, rơi xuống trên thềm ngọc, lăn vào
chính điện. Trong quách thất tối lửa tắt đèn, chúng tôi cầm đuốc đi vào, thấy
quách thất này cũng không lớn, theo phong thủy mà nói, có thể là vì tụ khí*.
*Tụ
khí: Đại khái theo phong thủy, kiến trúc tụ khí sẽ đem lại may mắn (khí gồm hai
loại khí âm dương, do cách bài trí nội thất hoặc do cấu trúc, thiết kế mà sinh
ra, tụ khí là để giữ lại dòng năng lượng tốt của hai loại khí này).
Khung
đỉnh phía trên và bốn vách của quách thất đều chạm khắc kinh văn, hai bên có
hai buồng đối xứng, phía cuối là hậu thất xếp một tấm bia đá không có chữ, dưới
bia có bị hí**, tục ngữ dân gian gọi cái này là bia vương bát đà (bia cõng
rùa).
**
Bị hí: Một loài động vật trong thần thoại giống như rùa.
Chính
giữa là một tòa bảo đài hoa sen trạm trổ long phượng. Có một cỗ quan tài lớn đã
tróc sơn, hoa văn trang trí là hình cá hóa rồng. Trên bảo đài bày ra ba mươi
cánh hoa sen. Hai bên cũng bày khạp thờ hình rồng phía trên có cung đèn (đèn
trong cung đình) mạ vàng. Đèn dầu vẫn còn bấc nhưng đã cạn dầu từ lâu. Chung
quanh quan quách có năm tượng gốm phủ đầy bụi đất. Lớp sơn của quan quách rơi
xuống đất màu chói như vân vàng, tất cả đều là hoa văn vảy rồng.
Gỗ
lim sinh trưởng ở nơi núi thẳm cùng cốc có thể do bị gió lớn đánh bật gốc, chôn
dưới đất qua hơn ngàn năm đã chuyển thành màu tím. Mặc dù vẫn là gỗ nhưng do
chôn qua hơn mười ngàn năm, nửa phần đã hóa thạch mới có thể tạo thành vảy rồng
vân vàng, nước ngâm không thấm, kiến mối không đào được. Tương truyền năm đó ở
Vân Quý, giữa nơi rừng sâu núi thẳm, hơn ngàn người đổ xô đi tìm một tấm gỗ lim
vảy rồng, lúc đi ra chỉ còn một nửa.
Báu
vật thượng hạng ở Quan Trung từ xưa đều đã biến mất, cầu cũng không thể gặp, vảy
rồng vân vàng có thể nói là vạn tiền khó cầu! Đài sen có đôi rồng uốn lượn bao
quanh, thường gọi là pháp đài, theo truyền thống của đạo phật, hàm ý ở đây là
được siêu sinh sang kiếp sau. Chúng tôi dù đã lo lắng đề phòng nhưng khi bước
vào chính điện, mọi ánh mắt đều bị quan quách trên đài sen thu hút không thể dời
đi.
Tôi
nhủ thầm: “Đế vương thì sao chứ? Chẳng phải lúc lâm đại nạn đều như tạt đèn nhổ
nến (ý chỉ sự lung lay khốn đốn) thành bánh chưng cả sao?”
Răng
Vàng là kẻ chỉ giỏi tán dóc, mồm năm miệng mường chém gió không ai bằng, có điều
lá gan rất nhỏ, dương khí toàn thân hư nhược, lúc ho thì không khác gì phun ra
khói, hắn buôn bán minh khí đều dựa vào độ dèo của miệng lưỡi, gắng dựa vào
chút nhãn lực và kiến thức, mười phần là hạng người ham sống sợ chết, như gà rừng
đứng cửa, không lên được núi Thiên Vương, từ trong bụng mẹ sinh ra đã vậy. Nhìn
thấy trong bảo điện trong huyền cung khí thế khoáng đạt, bất giác hai chân run
rẩy, bò lổm ngổm ở dưới bảo đài, dập đầu lạy quan quách Tần vương.
Tuyền
Béo nói với Răng Vàng: “Anh dập đầu cái bánh chưng làm gì? Không biết người
Trung Quốc đã đứng lên rồi sao (ý mỉa mai)?”
Tôi
nói: “Đúng, đứng nói chuyện sẽ không bị đau lưng mà!”
Răng
Vàng nói: “Đúng là thế, có điều…có điều quan quách này quá vĩ đại...”
Tuyền
Béo nói: “Quan quách lớn mang ra không được, trị giá bao nhiêu bạc cũng vô ích
thôi, làm sao mà anh lại kích động tới nỗi run lập cập như thế?”
Răng
Vàng nói: “Ở trên quan quách có hoa văn long phượng, chứng tỏ là quan tài chôn
chung, còn có một vị vua chôn cùng theo nữa!”
Tuyền
Béo nói: “Hai người? Minh khí chẳng phải sẽ nhiều gấp đôi sao?”
Răng
Vàng nói: “Theo như thế cục này, trong quan tài chắc chắn là có vật chí bảo giá
trị liên thành!”
Tuyền
Béo nói: “Còn cố làm ra vẻ huyền bí nữa, giá trị liên thành là bao nhiều tiền?”
Răng
Vàng nói: “Tôi chỉ giả thiết như vậy thôi, anh đừng chê tôi chưa từng thấy qua
sự đời, nói tóm lại là tôi không thể định giá, chỉ có thể nói rằng nó đáng rất
nhiều tiền, anh muốn bao nhiêu thì là chừng ấy!”
Tuyền
Béo nói: “Anh thật sự nghĩ tôi là kẻ ngu sao? Tôi muốn bao nhiêu được bấy
nhiêu? Vậy cũng phải có người chịu xuất đủ số tiền này có phải không? Tôi ở đây
suy nghĩ hồi lâu, kết quả nghĩ không ra là ai, không phải tôi sẽ thất vọng sao?
Tốn thời gian của tôi, lãng phí tình cảm của tôi, anh có đền được không?”
Răng
Vàng nói sao cũng không lại được, hắn không dám tiếp lời Tuyền Béo nữa, đành phải
im miệng bám theo sau lưng tôi, nghển cổ nhìn quanh phía trước.
Chúng
tôi đi lên bảo đài, giơ cao cây đuốc trong tay, lên phía trên vòm đài, mới nhìn
thấy tán đài hình đấu củng *, phía trên điêu khắc một con rồng vàng miệng ngậm
bảo châu, ở giữa ánh lửa lúc sáng lúc tối, nét vẽ đầu rồng trông vô cùng sống động.
*
Đấu củng: Một loại kết cấu đặc biệt của kiến trúc Trung Hoa, gồm những thanh
ngang từ trụ cột chìa ra gọi là củng và những trụ kê hình vuông chèn giữa các củng
gọi là đấu.
Răng
Vàng ngẩng đầu lên nhìn, cả kinh nói: “Thật đáng sợ! Một con ngũ trảo kim long
(rồng vàng năm móng)!”
Tuyền
Béo nói: “Mắt anh làm sao vậy, rõ ràng chỉ có bốn cái móng vuốt.”
Răng
Vàng nói: “Kim long tứ chi đặc biệt đều có năm móng, giống như tay người, cái
này gọi là ngũ trảo kim long!”
Tuyền
Béo nói: “Mấy cái móng vuốt có gì mà ghê gớm thế?”
Răng
Vàng nói: “Lão Béo có chỗ không hiểu, long trảo từ xưa tới này đều được quan
tâm rất lớn, rồng để Hoàng thượng dùng mới là ngũ trảo kim long, rồng khác
không có nhiều móng vuốt như vậy, móng vuốt không đủ thì không phải rồng thật,
bảo châu mà kim long ngậm gọi là Hiên Viên Kính.”
Tôi
nói: “Huyền cung của Tần vương không chỉ có địa thế lớn, lại còn dùng ngũ trảo
kim long để trấn, sau khi xuống mồ rồi còn vọng tưởng làm hoàng đế sao?”
Tuyền
Béo nói: “Hoàng đế không làm nổi, làm cái bánh trưng còn phải phô trương thanh
thế lớn như vậy, tốn kém máu thịt của dân!”, Hắn là người điếc không sợ sấm,
heo chết không sợ nước sôi, ăn trong chén nhìn trong nồi, thấy Ngọc Hoàng đại đế
cũng dám đùa bỡn, nói xong là muốn lên mở quan tài.
Có
điều cho dù minh khí có tốt đi nữa, không mang ra được thì vẫn là đồ của người
chết, chỗ này là tận cùng chính điện rồi, Tần vương huyền cung chôn sâu ở trong
lòng núi lớn, chung quanh vách núi dầy, khó có thể xuyên ra được, phải cần đến
bao nhiêu bản lĩnh mới xuyên núi mà ra được đây?