1.
Dân
đổ đấu giỏi tìm hầm nhỏ, chúng tôi mò được tổng cộng mười tám cái hang trong
núi, có đường vào thì tất cũng phải có đường ra, mà đường ra không ở đâu khác,
mười phần thì tám chín phần chính là ở trong quan quách Tần vương. Người xưa
tương truyền, long mạch tất có long huyệt. Long huyệt hay còn gọi là kim tỉnh
(giếng vàng), một long mạch chỉ có duy nhất một kim tỉnh. Kim tỉnh thông thường
không quá lớn, đất ở chỗ đó có thể nói chính là tấc đất tấc vàng, cho nên người
xưa gọi là kim tỉnh.
Thế
nào gọi là tầm long điểm huyệt? Cái này thì phải hỏi các thầy phong thủy cao
tay, thầy tới chỉ điểm, đào xuống chắc chắn gặp đất ngũ sắc, chính là nơi thích
hợp hạ huyệt. Dưới quan quách đào một cái lỗ, nối thẳng tới thủy khẩu *, gọi là
kim tỉnh.
Theo
góc độ phong thủy mà nói, kim tỉnh trong các mộ lớn thời cổ phần lớn đều ở ngay
phía dưới quan quách, nhờ vào nước mà có sinh khí, mồ mả chủ yếu mai táng theo
sinh khí. Thời đó Mô Kim Hiệu Úy chủ yếu tận dụng sở trường, hư hư thực thực,
tránh lầu son gác tía, mộ lớn đá to, chui thẳng vào huyệt qua kim tỉnh lấy bảo
vật. Nếu không nhờ tay nghề tuyệt đỉnh này, chỉ hai ba người làm sao có thể mở
được lăng mộ đế vương?
*
Thủy khẩu: Miệng nước. Đây là nơi dòng nước bắt đầu chảy vào huyệt, một khu
làng hoặc dải đất đặt mộ. Các nhà phong thủy cho rằng, nước chảy là huyết mạch
của long khí, là hình thái bên ngoài của sinh khí, tượng trưng cho của cải vượng
suy.
Kim
tỉnh nằm ở một trong mười tám lỗ, nhưng muốn chui qua kim tỉnh mà ra ngoài phải
nhằm lúc thủy mạch khô cạn, thời điểm có nước thì không vào được. Hơn nữa trên
thực tế kim tỉnh cũng có cái lớn cái nhỏ, có cái chỉ nhỏ bằng quả đấm, anh có
thuật rút xương cũng không chui qua nổi. Có điều Tần Vương huyền cung quy mô lớn
như vậy, kim tỉnh bên dưới quan quách chắc hẳn không đến nỗi quá nhỏ. Long mạch
ở Ngọc Hoàng điện năm đó đã bị loạn quân phá hủy, núi non sụt lở, thủy mạch khô
cạn, có lẽ có thể dựa vào kim tỉnh mà thoát thân.
Tôi
bảo thằng Béo nhặt đầu cung nữ trả về cho người ta, lại nói qua kế hoạch với
Răng Vàng và Tuyền Béo một lần.
Răng
Vàng nghe nói dưới kim tỉnh có thể có một con đường sống liền giơ ngón tay cái:
“Hồ gia anh đúng là cao nhân, cứ như có bảy cái đầu vậy!”
Tôi
nói: “Câu này anh nói với cái cột điện đi, cột điện cao hơn tôi đó.”
Răng
Vàng nói: “Cột điện dù có cao hơn nhưng vĩnh viễn cũng chỉ là một cây gỗ chết,
làm sao có thể so sánh với Hồ gia được? Không phải Răng Vàng tôi nói vậy để
tâng bốc, mà quả thực là tôi đã phục anh sát đất rồi. Người xưa cũng từng nói,
đáy quan tài của hoàng thân quý tộc vốn không phải là một phiến ván liền mà thường
khảm một mảnh ngọc bích lớn vốn nhằm để nối thông với kim tỉnh, gọi là “kim tỉnh
ngọc táng”. Đối với các tuyệt chiêu phá quan của Mô Kim hiệu úy, phá từ bên
trên thì gọi là gọi là “thiên nga hạ đản” (ngỗng trời đẻ trứng), đục từ dưới
lên thì gọi là “hải để lao nguyệt” (mò trăng đáy biển)!”
Ta
nói: “Cho dù là vậy thì cũng phải theo quy củ, ở mỗi phần mộ chỉ được lấy một
món đồ.”
Răng
Vàng nói: “Hồ Gia đã xem trọng vấn đề đó thì tuyệt đối chúng tôi cũng không thể
xem thường được!”
Thằng
Béo nói: “Hai người kẻ đưa qua người đá lại đến cả nửa ngày, trong mắt còn nhìn
thấy tôi ở đây không? Mỗi mộ chỉ lấy một món minh khí hoa mắt mà chọn biết đến
bao giờ? Anh nghe tôi này, chăn một con dê cũng là chăn, hai con dê cũng là thả,
chẳng thà nhìn trúng cái gì thì nhặt cái đó, hôm nay là ngày đầu năm, thể diện
cũng chả cần dùng, da mặt dầy thì ăn đủ, mí mắt mỏng thì nhìn xa!”
Tôi
nói: “Mỗi mộ phần chỉ lấy một món đồ là để dễ dàng thoát thân, nếu anh có bản
lĩnh bê nguyên cả cái Tần vương huyền cung này đi, tôi cũng không cản.”
Răng
Vàng nói: “Lấy minh khí nào hãy để tôi chọn, nếu ngay cả việc này Răng Vàng tôi
cũng làm không nổi thì còn cần cái đầu làm gì nữa?”
Tôi
gật đầu, Tuyền béo tới góc Đông Nam phía trước thắp một cây nến, chuẩn bị mở
quan tài tìm kim tỉnh. Tần vương huyền cung mặt hướng về Nam, lưng đưa về Bắc.
Ba người bọn tôi đi vào từ phía Nam, đi ra hướng Bắc, quan tài bảo vật nằm
ngang trên bệ đá. Qua đó có thể phán đoán chủ mộ đầu hướng Tây, chân hướng
Đông. Như vậy vị trí đốt nến hướng đông nam nằm cạnh vị trí chân chủ mộ..
Tuyền
Béo đi lại đốt nến, chân đụng phải một vật, nghe “xoảng” một tiếng, hắn giơ cây
đuốc nhìn xuống, thì ra là một bức tượng đồng tử bằng đất sét, lâu ngày bị gỉ,
màu sắc loang lổ, đầu tượng không có mặt, dường như đã bị người ta cạo sạch, lại
bị Tuyền Béo đụng trúng rơi xuống đất, vỡ mất nửa cái đầu. Quan tài trong phòng
trống rỗng, chỉ có năm tượng gốm chôn theo, xếp thành bốn phía trên bục, phía
trước bàymột chén cơm, thứ Tuyền Béo đụng phải là một trong số đó.
2.
Răng
Vàng nói: “Tượng đất không đáng giá, đồ tùy táng quan trọng phải là đồ thật,
không có đồ thật mới phải dùng đồ thay thế như gà đất, chó sành. Tượng gốm
trong Tần vương huyền cung, có lẽ hàm ý là đông con lắm phúc, kéo dài vạn kiếp.”
Tôi
nói: “Tượng gốm trong Tần vương huyền cung không chỉ có một, mặt mũi lại bị cạo
sạch, phương vị bày trí cũng không đúng quy tắc, có thể không phải là tượng đất
chôn theo, không chừng ở đây có quỷ!”
Tuyền
Béo nói: “Giả thần giả quỷ hù người? Tôi cũng thấy lạ, như ý anh thì cái đống
này là yêu tinh đúng không?” Nói xong, hắn cười khan hai tiếng lấy thêm can đảm,
Tần vương huyền cung sâu thẳm mênh mông, tiếng cười vọng lại còn khó nghe hơn
quỷ khóc.
Răng
Vàng nghe được, chân tóc dựng đứng lên, cúi đầu nhìn, thấy trên mặt tượng đất
sét nứt ra lộ ra một khuôn mặt người nho nhỏ trăng trắng, thì ra những tượng đất
này vốn dùng để giấu xác. Trên miệng tử thi đầy oán khí nhưng không thể nói ra
được, chẳng lẽ là oan hồn? Mặt hắn biến sắc, sợ chọc tới tiểu quỷ, vội châm ba
cây hương nắm trên tay, vái lạy bốn phương tám hướng, miệng lầm rầm niệm: “Bọn
ta vô tình mạo phạm, đừng trách bọn ta quấy rối! Oan có đầu nợ có chủ, các
ngươi có hận cũng nên hận người trên bảo đài kia mới phải!”
Tương
truyền từ thời Hán, trong mộ Đế vương có một loại tượng sống, tức là cuốn người
sống trong đất sét, nung thành tượng đất, máu thịt đều hòa cùng một thể với đất
sét, bên trong chỉ còn lại tro đen, đến hai triều Nguyên Minh, cũng có tục mang
đồng nam đồng nữ nung thành tượng gốm có điều tục này cũng không phổ biến.
Dân
gian tương truyền người sống chôn theo oán khí rất nặng, âm hồn không tan. Quỷ
người vốn khác biệt, quỷ không thấy người, người không thấy quỷ, có điều trong
hoàn cảnh đặc biệt thì có thể, ví dụ như trong cổ mộ âm khí nặng, khi dương khí
của người sống thấp thì có dễ dàng bị quỷ nhìn thấy nhưng cũng chỉ mờ ảo mơ hồ
không rõ ràng. Có điều bất kể bạn là ai, chỉ cần để cho quỷ nhìn thấy bạn, nhất
định nó sẽ coi bạn là kẻ thù lúc còn sống mà trả thù. Tương truyền, trên đỉnh đầu
và hai bên bả vai người sống có một ngọn đèn, gọi là “tam muội chân hỏa”, có bảo
bối đó người không thấy được quỷ mà quỷ thấy bạn cũng phải tránh, người thấy được
quỷ đa phần đều là dương khí thấp.
Giới
trộm mộ khi hành sự ít nhất cũng phải mang theo móng lừa đen, chỉ có ác quỷ là
móng lừa đen không đối phó nổi. Ác quỷ có oán khí quá sâu, sau khi chết không
thể vào luân hồi, chỉ muốn báo thù, oán khí càng nặng, nó nhìn thấy người mà
người nhìn nó cũng càng rõ. Các truyền thuyết mê tín dân gian đều mô tả lại như
vậy, mê tín quá cũng không được, nhưng quá chủ quan thì cũng thiệt thân.
Đừng
nghĩ Răng Vàng nhát gan mê tín, cho dù có quỷ thì căn bản cũng không ảnh hưởng
tới ý định trộm minh khí của hắn. Tuyền Béo là kẻ gặp tổ ong lớn cũng dám chọc,
binh đến thì tướng chặn, nước tới thì đất cản, đừng nói tượng gốm chôn theo
trong Tần vương huyền cung, chẳng qua cũng chỉ là một mảng đất sét, đụng nhẹ là
có thể rơi cả nửa cái đầu, cho dù là thiên binh thiên tướng, nhiều lắm cũng chỉ
có năm, sáu cái, có gì mà đáng sợ? Chờ Răng Vàng lạy một chặp xong, Tuyền Béo đốt
một cây nến trước tượng gốm, không biết có phải trong phòng đặt quan âm khí quá
nặng hay không, ánh nến chuyển màu xanh ngắt, chiếu lên mặt người nhìn như quỷ!
Tôi
chột dạ nói với hai người bọn họ: “Năm đồng tử trước quan quách bị chôn sống
trong đất sét chắc hẳn không phải là tượng đất chôn theo, mộ Tần vương là tòa cửu
trọng huyền cung (tòa mộ chín tầng), trên vách phòng để quan tài đục đẽo chằng
chịt hình thù kỳ quái với lời chú, lại có năm đồng tử bị đất sét phong bế, mục
đích để làm gì đây?”
Về
quy tắc chôn cất trong phong thủy, người giàu sang hay bần tiện vốn là số mệnh
định trước, không có số làm Hoàng thượng, mặc long bào cũng vô ích. Mệnh chân
long thiên tử là cửu ngũ chí tôn, cửu ngũ là sáu mươi bốn quẻ ba trăm tám mươi
bốn hào trong hào chí dương, chí tôn chí cao nhưng đường sống lại không cao.
Người xưa vốn mê tín đặc biệt tin vào số mệnh, mệnh do tứ trụ ngũ hành bát tự
quyết định, mà trong long mạch vận khí vô cùng quan trọng, người hợp mệnh mai
táng có thể mượn long khí. Tuy không biết là có tác dụng thật hay không nhưng
trong âm dương phong thủy quả thật có loại phương pháp mai táng này. Quan quách
Tần vương chôn phía trên long huyệt, lại bố trí năm đồng tử đất có long mệnh,
tương đương với năm con tiểu Long, vừa vặn tạo thành một thế “ngũ long phủng
thánh” (năm con rồng nâng vua)!
Răng
Vàng nói: “Ồ! Năm con rồng nâng thánh giá*, nên thăng thiên thì đã thăng thiên,
nên đầu thai thì đã được đầu thai rồi, chúng ta lấy minh khí chắc sẽ không gặp
trở ngại gì đâu!”
Tôi
còn chưa nói hết, ở đây các đồng tử hợp mệnh mai táng theo được bày thành một
thế “ngũ long phủng thánh” trước quan quách Tần vương mặt mũi đều bị cạo sạch,
cổ nhân nói: “Vô khiếu bất thông linh” (không có khiếu** thì không thể thông
linh), tượng đất hay cả con tò he cũng nên có khiếu, nếu như là chỉ một hai bức
tượng đất không có mặt còn có thể giải thích là do niên đại lâu năm nên mặt mũi
bị vỡ rụng, nhưng ở đây cả năm bức tượng mặt mũi đều có dấu vết bị người ta nạo
gọt thì chỉ có thể giải thích theo cách của Răng Vàng – làm cho oán khí tích tụ
không thoát ra được, khiến cho thánh giá bên trong quan quách không những không
thể thăng thiên lại còn bị năm đồ quỷ này quấn lấy, cát hung điên đảo, tạo
thành thế “ngũ quỷ triền thi” (năm quỷ quấn thây), tôi phân tích như vậy đã đến
nơi đến chốn chưa?
*
thánh giá: Chỉ vua
**
khiếu: Thất khiếu - hai tai, hai mắt, miệng, hai lỗ mũi.
Răng
Vàng nói: “Mới chỉ đến dạ dày* sao? Tôi thì thấy cũng đến thận rồi! Hồ gia anh
nói xuống chút nữa chắc tôi tè ra quần!”
*
Ở đây Răng Vàng dùng từ đồng âm khác nghĩa, bên trên Hồ gia nói 位 (vị - wèi), nghĩa chỉ nơi chốn, vị trí.
Bên dưới Răng Vàng dùng chữ 胃 (vị - wèi) đồng âm với 位, tuy nhiên 胃
nghĩa là “dạ dày”
Tuyền
Béo nói: “Toàn là nói bậy, bản chép tay của tổ truyền bã đậu của nhà anh vốn
toàn cổ xúy cho mê tín, tầm bậy tầm bạ, mang chùi mông còn không đủ, nên xé đi
thì hơn!”
Tôi
nói: “Mê tín hay khôn còn phải chờ xem mới biết, tôi chỉ không hiểu ai lại nạo
đi mặt mũi của những tượng đất đó? Các anh cũng thấy đó, bốn vách không có dấu
hiệu bị đục phá, quan quách cũng không có dấu vết từng bị mở.”
Tuyền
béo nói: “Cũng không phải là không có, hán bạch ngọc (cẩm thạch trắng) trên cửa
điện không phải vẫn còn treo một vị đó à? Nếu anh là người bị chôn theo, anh lại
không oán hận chủ mộ thêm vài phần rồi mới chết à?”
Thằng
béo vốn là hạng người nhảy qua tường thì rớt lại lỗ tai (không nghe lời người
khác), từ trước đến giờ luôn lớn gan làm bậy, trong lúc nói chuyện đã nhảy lên
bảo đài ba mươi sáu cánh sen, đưa đuốc cho Răng Vàng, đeo bao tay, dùng sức đẩy
nắp quách ra.
Tôi
vốn không tin một cung nữ chôn theo lại có thể chết tới hai lần, lại không nghĩ
ra nên làm thế nào mới đúng nên bảo Tuyền Béo chớ vội động thủ, lấy cây đuốc
tìm lại lần nữa, phát hiện trên đỉnh mộ thất có một cửa hang, đối diện với bia
đá bên dưới. Răng Vàng sụp xuống hít một hơi lạnh: “Đạo động!”
3.
Tôi
nói đó không phải là đạo động, kẻ gian đào hang trộm mộ mới gọi là đạo động,
dùng tiếng lóng trong nghề mà nói, cái này gọi là “diêu khẩu” (miệng hầm). Mộ
thất thường gọi là “đất diêu mà”, diêu khẩu là đường sống do phu xây lăng mộ âm
thầm đào bới. Kích thước của Tần vương huyền cung lớn như vậy, dân phu đào lăng
chắc chắn không ít. Thợ có kinh nghiệm sẽ đào sẵn một đường sống trước khi hoàn
thành công trình để tránh bị chôn sống diệt khẩu. Ám đạo mà phu mộ đào đó được
gọi là “diêu khẩu”, có điều rất khó tìm, bởi vì “diêu khẩu” đó sẽ phá hỏng kết
cấu phong thủy, nên phải làm sao càng bí mật càng tốt, động chạm đến đất trên
cung là đại kỵ của long mạch trong lăng tấm, một khi bị bắt chính là tội chu di
cửu tộc. Có lẽ lúc hạ táng mộ chủ đã chôn sống một số phụ mộ ở điện thờ phụ. Một
hoặc vài người trong số đó đã lưu lại ám đạo, lúc chạy thoát thân thuận tay đào
mở đỉnh mộ ở hậu thất, xuống nạo mặt tượng đất chôn theo để trả thù chủ mộ, sau
đó mới chui qua “diêu khẩu” để ra ngoài, lúc ấy cung nữ chôn theo cũng đã thắt
cổ chết rồi. Việc phu mộ không mở quan tài lấy bảo vật cũng không có gì là lạ,
trước mặt có vương pháp, không ai dám mang bảo vật chôn theo của đương triều ra
ngoài bán lấy tiền. Bình thường sẽ mai danh ẩn tích, chờ đến khi thay đổi triều
đại, lại theo đường cũ vào huyền cung, lấy trộm minh khí trong quan tài.
Có
điều những người này sau khi trốn ra ngoài có lẽ đã rơi vào tay quan phủ hoặc
vì lý do nào đó, cuối cùng cũng không xuống lại nữa.
Lối
đi do phu mộ đào trộm thường khá nhỏ, cũng không chắc chắn, trải qua nhiều năm
như vật, không biết còn đi nổi nữa hay không. Tôi đang nghĩ có nên đi con đường
kia hay không thì Tuyền Béo đã cùng với Răng Vàng mở quan tài rồi. Hai người họ
chụm chân dồn sức rồi chân trước chân sau căng lên tạo thành dáng như hổ leo
núi, cố sức đẩy nắp quan tài về một phía. Phiến gỗ lim vân rồng vàng chắc nặng
như sắt, mọi người dốc toàn lực, gồng vai đẩy mới xê dịch được nắp quách một
chút. Bỗng nghe một tiếng vang quái dị, từ quan tài xông ra một luồng khí đen,
tràn ra bảo điện âm u. Khí đen bị ánh lửa chiếu vào chuyển từ đen thành vàng, lại
từ vàng chuyển trắng rồi tản ra như mạng nhện, có tiếng “xoạt xoạt” vang lên, bụi
đất trên nóc điện như bị luồng hắc khí này va phải ào ào rơi xuống.
Cây
đuốc trong tay tôi đụng phải màn sương mù dày đặc, vụt tắt. Cây nến trong xó xỉnh
dao động mấy cái, ánh nến màu vàng chỉ còn chừng như hạt đậu, tắt rồi lại sáng,
nháy mắt lại tắt, bốc lên một làn khói.
Răng
Vàng tự động viên: “Không quan trọng, bị quỷ thổi mới là quỷ thổi đèn, không phải
quỷ thổi thì có gì phải sợ?”
Ta
nghĩ thầm: “Răng Vàng ngươi cũng lắm lý lẽ thật, đúng là khi quan quách nổi lên
một trận âm phong, thổi tắt nến, không gặp quỷ đi ra nhưng đèn đuốc bị tắt, hoặc
là tắt rồi lại sáng đều không phải điềm tốt, phải quỳ lạy chủ nhân của mộ, theo
đường cũ lùi ra. Có điều đi được tới nước này, cho dù phía trước là chảo dầu
sôi, chúng tôi cũng nhất định phải nhắm mắt nhảy xuống! Mặc dù nói rằng lúc Mô
Kim trộm mộ nến bị tắt, chắc chắn sẽ xảy ra biến cố, nhưng tôi với Tuyền Béo vốn
không quan tâm hung thần ác sát. Nhìn đám đồng nam đồng nữ chôn sống theo trong
huyền cung có thể thấy Tần vương vốn là kẻ tham lam tàn nhẫn, không đào bới vài
gian để dâng lên trời thì thật có lỗi với tổ sư Mô Kim gia truyền rồi!”.
Tôi
trấn tĩnh lại, lấy đèn pin ra, chùm ánh sáng chiếu vào quan quách, phiến quách
chính giữa là “tử cung”, bên trên phủ áo bào thêu mười hai con giao long vàng,
bên trong là một khối thủy tinh đặt ngay ngắn. Quan tài vua sau khi hợp táng gọi
là “tử cung”, Tần vương không phải Hoàng thượng nhưng quan quách cùng với “tử
cung” bố trí hoàn toàn theo cách thức “đại hành” của Hoàng đế.
Khí
đen mù mịt bao trùm chính điện, mùi hôi thối bốc lên khiến người ta ngạt thở,
ánh sáng đèn pin trên tay tôi không đủ, đuốc lại tắt. Tôi nhớ ra trong hang rồng
còn có cây đèn dầu, tương truyền đốt trường minh đăng (đèn chong để thờ suốt
ngày đêm) trong hầm mộ không được thắp lên, nếu không lúc mở quan lấy bảo vật sẽ
bị chủ mộ nhìn thấy mặt. Tới bây giờ, tôi vẫn không tin chuyện này, liền quẹt
diêm đốt cây đèn mạ vàng, hầm mộ sáng lên một chút. Ba người lùi tới dưới đài
sen đợi hồi lâu, trong hầm mộ cũng chưa có chuyện gì xảy ra, lúc này bọn tôi mới
tiến tới nâng nắp quách, khệ nệ vần sang bên cạnh, dựng thẳng ở cạnh quan
quách. Đại điện Tần vương huyền cung tuy lặng ngắt không tiếng động nhưng năm
móng rồng vàng trên đỉnh đầu phủ đầy bụi đất tích tụ lâu ngày cũng tạo thành một
loại áp lực vô hình khiến người ta cảm thấy lạnh buốt sống lưng, toàn thân nổi
da gà.
Tuyền
Béo vén hai tầng áo quan loang lổ nhấc “tử cung” trong quan tài lên, chỉ thấy Tần
vương mặc mười mấy lớp cổn long cẩm bào (lễ phục của vua), nằm ngửa ở chính giữa
“tử cung”, đỉnh đầu đội mũ, mặt to như cật lợn, từng món trân bảo quý hiếm chưa
thấy bao giờ được xếp chung quanh tỏa hào quang chói mắt, san hô bảo thụ, bàn
thờ Phật mạ vàng, ngọc minh châu, đủ loại vàng bạc ngọc khí nổi lên giữa mảnh gấm
thêu rồng rực rỡ, lóe lên ánh huỳnh quang
sáng rực. Nhưng ngoài dự đoán của
mọi người, hai bên “bánh trưng” có một phi tử “bồi vương” (chôn theo làm bạn với
vua), đều là mỹ nhân ngọc ngà, toàn thân bọc áo niệm, hình long phượng uốn lượn,
trên mũ phượng đính đầy trân châu, khi chùm sáng đèn pin chiếu vào, trên mặt liền
hiện ra một tầng ánh sáng xanh.
Răng
Vàng cũng không ngờ trong quan quách rốt cục lại là một thân xác, hai người ngọc,
thật là hiếm thấy. Chúng tôi nín thở cùng quan sát những món minh khí kia từng
chút một tới hoa cả mắt. Thi thể trong “tử cung” đều bọc áo liệm, phía trênn
xâu những xâu tiền vàng, chính giữa thêu hình rồng cuộn, chung quanh là sóng nước
cùng họa tiết hình dơi, gọi là “phúc hải vô biên”, kết hợp với vạn tự bất đáo đầu*
bát bảo cát tường huy**, giữa bánh xe và
lọng được viền đá mắt mèo xanh - tổ mẫu của các loại đá quý, lại lấy ngọc minh
châu tô diểm, tượng trưng cho trăng sao trên trời, hơn ngàn đồng tiền vàng có lỗ
vuông ở giữa đều khắc bốn chữ “tiêu tai duyên thọ” (ý nghĩa trừ tai ương, kéo
dài tuổi thọ).
*
Vạn tự bất đáo đầu: Vạn tự bất đáo đầu, hay còn gọi là vạn tự cẩm, vạn tự văn,
vạn tự quải, vạn bất đoạn, vạn tự khúc thủy đẳng. Là một loại họa tiết hình học
mang ý nghĩa cát tường trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, vạn tự bất đáo đầu
sử dụng nhiều chữ (卐)
nối lại, là loại hình vẽ kéo liên tục ra bốn phương. Trong đó, 卐 - ngụ ý cát tường, “bất
đáo đầu” - ngụ ý kéo dài không dứt, vì vậy, “vạn bất đáo đầu” có hàm ý chỉ cát
tường không dứt, vạn thọ vô biên.
**
bát bảo cát tường huy: Hình “bát bảo cát tường”
Bát
bảo cát tường hay còn gọi là “bát thụy cát tường”, gồm tám hình vẽ mang ý nghĩa
cát tường thường xuất hiện trong hội họa của người Tây Tạng. (Tám pháp vật này
có sự khác nhau giữa các giáo phái, ở đây mình tham khảo Phật giáo, ngoài ra “bát
bảo” của Thiên Y phái và Bạch Y phái ở Ấn Độ có khác đôi chút về hình vẽ).
Trong
nhà Phật là tám pháp vật tượng trưng cho cát tường, viên mãn, hạnh phúc, gồm có
các hình vẽ: pháp luân (bánh xe), bảo loa (con ốc), pháp tán (cái dù), bạch cái
(cái lọng), liên hoa (hoa sen), bảo bình (cái vò), kim ngư (cá vàng), bàn trường
(cái chậu).
Tám
hình vẽ này có thể đứng riêng lẻ, cũng có khi hợp thành một thể.
Hai
bên lọng gấm nhét chừng mười đĩnh vàng, năm lượng năm một đĩnh, tất cả mười phần
đều là Điền kim ( - vàng Vân Nam?). Trên người Tần vương treo một hộp bảo, cũng
bọc lụa vàng, bên cạnh có tràng hạt, bảo kiếm, ngọc như ý, chén mã não, bình thủy
tinh, vàng ròng bạc trắng, đồi mồi lấm tấm, sừng tê giác, ngà voi. Bao nhiêu
trân bảo không đếm xuể, có những thứ đừng nói là thấy mà ngay cả nghe nghe cũng
chưa từng nghe qua. Theo sử gia nhà Minh ghi lại, châu lấy từ biển, vàng lấy từ
Vân Nam, gấm dệt từ Ngô (vùng Nam Giang Tô), tuyệt đối không kém hơn cống phẩm
triều đình. Tử cung Tần vương bày đầy vật bồi táng, hàng trăm loại trân bảo
phát ra sắc sáng kỳ diệu dọa mắt người.
Ba
người bọn tôi không hẹn mà cùng xoa xoa mắt, chưa thấy qua trân bảo nhiều cỡ
này, không biết nên hạ thủ từ đâu.
4.
Tuyền
Béo nói: “Hai con mắt Răng Vàng anh vốn không phải chỉ để thông khí, anh đảo một
cái xem nên lấy cái gì!”
Răng
Vàng dường như rất sợ kinh động đến Tần vương, nhỏ giọng nói: “Bánh chưng vẫn
chưa rữa nát, dường như trong miệng có ngậm châu ngọc...”
Tuyền
Béo nuốt nước miếng một cái: “Tôi có tuyệt chiêu móc cái này, để tôi lấy ra cho
mà xem!”
Răng
Vàng nói: “Chẳng qua là ngọc ba ba thôi, thứ đó bị nhét vào miệng mấy trăm năm
thì mất hết tinh khí, chẳng ai muốn lấy, lấy ra cũng không đáng tiền. Không phải
chúng ta đã nói rồi sao? Lấy gì là do tôi lựa chọn! Tôi đã gặp qua nhiều minh
khí, không phải chém gió, trong quan quách chắc chắn còn có vật chí bảo, một thứ
có thể đội cả quan tài!” Mặc dù Răng Vàng đã gặp qua không ít đồ tốt, nhưng tử
cung Tần vương đang mở trước mắt cũng làm cho hắn hoa cả mắt.
Anh
nói kim nguyên bảo đáng giá, không sai, vàng thật, bạc trắng thì không gạt người,
thời kỳ đầu những năm tám mươi, một lượng hoàng kim đáng giá ba vạn tiền. Có điều
cổ nhân thường nói “túc lượng văn ngân, túc lượng nguyên bảo, túc lượng nãi
quan xưng” (bạc trắng đủ lượng, vàng ròng đủ lượng, đủ lượng mới đúng giá trị -
ý là vừa vặn, không hơn không kém). Nguyên bảo đủ lượng phải đúng năm lượng,
đúc một đĩnh mà đến năm lượng rưỡi cũng là không vừa vặn - không “túc lượng”.
Hơn nữa nguyên bảo có ấn quan nên về cơ bản cũng chẳng làm ăn được gì? Có thể
nói, trong toàn bộ minh khí, kim nguyên bảo là thứ rẻ mạt nhất. Lọng rồng, áo gấm
mặc trên người đã đáng giá hơn ngàn chỉ vàng, đá quý viền nạm bên trên khó mà đếm
xuể, huống chi chỉ có trong lăng vua mới có lọng rồng, đổi bao nhiêu nguyên bảo
cho vừa? Hộp báu trước ngực Tần vương, mặc dù chưa mở ra xem nhưng cũng có thể
đoán được, thứ trong đó chính là thụy bảo, phong sách - tương đương với ấn tỳ của
Tần vương, nhưng không giống với ấn tỳ, thụy bảo là để người chết mang xuống Âm
phủ dùng, bên trên có ban tên thụy. Chỉ nói riêng về giá tiền, lọng rồng bọc
xác đã đáng vạn tiền nhưng cũng không thể bằng ấn tỳ. Có điều đối với người
trong nghề mua bán minh khí như Răng Vàng, tràng ngọc bên người Tần vương không
cần nhìn cũng biết, đây chính là sơn long châu ngàn năm, tuyệt đối là tuyệt phẩm,
nếu như trước kia, một hạt châu trong chuỗi cũng có thể đổi lấy một tòa nhà, cả
một chuỗi...vậy giá trị tới đâu? Ấn tỳ đáng giá nhưng không thể bán ra, tràng
ngọc vừa dễ lấy, lại đáng tiền...
Tôi
lo tình hình có biến, cây nến không tắt thì không lo, đằng này gà gáy đèn tắt
phải mau chóng thoát thân, nhưng thấy Răng Vàng càng xem càng mơ hồ, do dự
không quyết, tôi nóng lòng tìm vị trí kim tỉnh, sợ đạp phải trân bảo trong quan
tài, đành cất đèn pin, đeo dù kim cương trên lưng, tung người nhảy vào tử cung,
nhưng vừa ngẩng đầu liền phát hiện mặt xác chết biến đổi! Gương mặt to đùng
trong tử cung đã biến thành màu xám tro, da thịt co rúm lại, móng tay dài ra dị
thường. Chuyện trộm mộ mở quan lấy bảo, cương thi bật dậy nhào tới - tất cả đều
chỉ là truyền thuyết dân gian dọa người. Thật ra lúc mở quan, thấy xác chết biến
đổi đa phần vì quan quách bảo quản thi hài quá tốt. Tôi nhìn chăm chú vào bánh
trưng trong quan quách một hồi, không biết có phải nhìn lầm hay không mà mặt của
lão bánh trưng khẽ động một cái, như muốn mở miệng hàn huyên. Tôi cảm giác chân
tóc dựng hết cả lên, rùng mình vội nhảy ra khỏi quan quách, gọi Tuyền Béo với
Răng Vàng coi chừng, đừng đứng quá gần.
Tuyền
Béo nghểnh cái cổ dài, chỉ chăm chú nhìn những đồ minh khí trong quan quách: “Thần
kinh của anh không nên quá mẫn cảm! Lúc trước tôi thổi vài hơi mà râu lão bánh
chưng đã động mấy cái, huống chi anh còn trên nhảy tưng tưng ở đấy!”
Răng
Vàng chỉ tấm lụa vàng bọc xác, bảo: “Đừng để ý đến bánh chưng làm gì! Tôi nhìn
kỹ rồi, không nên lấy những thứ khác, trong số minh khí này, phải nói đáng giá
nhất là thụy bảo! Không phải Thiên tử thì không thể dùng thứ đó, từ chư hầu trở
xuống không được động vào!”, hắn vừa nói liền thò tay ra lấy, nhưng vừa kéo tấm
lụa vàng lộ ra áo gấm che thi thể, bên dưới lại có một bàn thờ Phật mạ vàng,
chính giữa phía cuối bàn thờ Phật là một tượng Phật ngọc, chính giữa vỏ sò ngọc
có một tượng Phật, vỏ ngoài gần như đã hóa ngọc hết, như thật như giả, mà càng
nhìn lại càng thấy thật. Bàn thờ Phật khảm bát bảo kết hợp với Phật bằng ngọc
phỉ thúy ngồi bên dưới, trên dưới cách nhau một thước. Phật tổ ở vỏ sò ngọc có
mặt mũi an tường, hồng hào tự tại, lòng bàn tay hướng lên trên đặt bên trên
chân trái phát ra ánh sáng long lanh trong suốt.
Răng
Vàng thấy Phật trân châu, bất giác toàn thân phát run, nước miếng trào ra: “Đây
mới là bảo vật vô giá! Thụy bảo là đồ mang đi Âm phủ, chưa chắc có người dám xuất
tiền, mà cho dù có người dám xuất tiền cũng chưa chắc đã dám gánh trách nhiệm,
không giống Phật trân châu phỉ thúy này!” Hắn vừa nói vừa tiến về phía trước,
chúi cái đầu to nhào vào quan tài, đèn pin cũng ném xuống đất, ôm lấy Phật trân
châu: “Lão Phật ơi!!! Răng Vàng ta cũng là người số khổ, ba đời làm trâu làm ngựa
vắt cạn mồ hôi mà sống qua ngày, đến hôm nay được thành chính quả, ta nên cúng
ngài cái gì mới tốt đây?”
5.
Tôi
với Tuyền Béo nhìn tới ngây cả người, nếu không phải Mã Lão Oa Tử chôn sống bọn
tôi trên núi, có thể bọn tôi sẽ không tới được đây, không ngờ vẫn còn đủ ba cái
mạng, thật là nhân họa đắc phúc, lấy được một tượng Phật trân châu phỉ thúy thế
này, từ nay trở đi lời ăn tiếng nói cũng có chút trọng lượng rồi.
Tuyền
Béo nói: “Xem Răng Vàng anh có ra cái hồn người gì không? Tôi thấy anh cả đời
này được bãi phân cũng phải dốc hết lòng mề ra! Đừng có động cái là ngã ngửa ra
đất như thế, nhanh lên cho tôi!”
Răng
Vàng không buông nổi, hai tay nâng Phật trân châu mà nói với Tuyền Béo: “Béo
nhà ngươi cho dù không tin thì ta cũng phải nói, lần này ta đúng là “cẩu hùng
chui ống khói” (ý nói rất khó khăn mới gặp được)! Nhìn xem đây là cái gì? Tôi
có moi cả họ hàng tổ tông mấy đời ra cũng không moi được ra thứ này! Không phải
tôi huênh hoang nói khoác, Răng Vàng tôi ăn chén cơm này không dưới hai mươi
năm, minh khí qua tay tôi không mười thì cũng phải được tám ngàn. Các người có
thấy đôi tay này hay không? Tay này gọi là tay bắt bảo, minh khí chỉ cần đến
tay tôi thì coi như là lấy keo 502 mà dính vào...” Lời còn chưa dứt, sắc mặt hắn
bỗng biến đổi, Phật phỉ thúy trân trâu trên tay rớt xuống.
Tôi
không hiểu tại sao Răng Vàng lại đột nhiên thất thủ, có điều Mô Kim trộm mộ, ăn
cơm dương thế mà làm việc âm ti, có quỷ mới biết sẽ gặp phải những rắc rối gì,
chỉ thấy hai tay hắn vừa buông, Phật trân châu liền rớt ngay xuống, tôi đứng đối
diện hắn muốn đỡ cũng không kịp.
Tuyền
Béo kêu to một tiếng: “A di đà Phật!” - chưa dứt lời đã lao tới, thân thủ mau lẹ
chưa từng thấy, trong lúc ngàn cân treo sợi tóc nhào lên chụp lấy, vừa vặn đỡ
được Phật trân trâu phỉ thủy rớt từ tay Răng Vàng.
Tôi
thầm hô một tiếng “Nguy hiểm thật”, giơ tay lau trán đầy mồ hôi lạnh, lại thấy
Răng Vàng không nhúc nhích, mặt hóa đá, ánh mặt vừa kinh hoảng vừa như không thể
tin được.
Tuyền
Béo giận không làm gì được, nếu không phải tay còn đang nâng Phật chân trâu phỉ
thúy, thế nào cũng đập Răng Vàng ngã ngửa.
Nếu
như bình thường, Răng Vàng sẽ sớm kiếm cớ chối lủi, nhưng hiện giờ hắn lại
không nói tiếng nào, ánh mắt kinh hoàng, hai mắt đăm đăm nhìn thẳng vào quan
quách.
Tôi
vừa lo không biết có chuyện gì thì đã nhanh chóng nhận ra, nếu nói ở đây có thể
sinh biến tôi sẽ không thấy bất ngờ, liền móc ra một cái móng lừa đen, theo ánh
mắt Răng Vàng nhìn xuống – Lão Tần vương nằm trong quan quách, chẳng biết đã há
to miệng từ bao giờ!
Tôi
cũng sợ hết hồn, ra ngoài mang theo móng lừa đen hoàn toàn chỉ đơn giản là để lấy
tinh thần, không mấy khi thật sự cần dùng đến, lúc ấy tôi không kịp nghĩ nhiều
liền vung tay ném cái móng lừa đen, thấy ném trúng liền tự thưởng cho mình một
tiếng “tốt”!
Không
ngờ móng lừa đen trúng phải đầu Tần vương nứt ra một chút, Tuyền Béo vừa bò dậy
từ phía đối diện, mới ngẩng đầu lên móng lừa bay thẳng vào mặt hắn.
Tuyền
Béo mắng: “Tiên sư nhà anh lão Hồ, móng lừa đen để ném người sống à? Có biết tới
tận bây giờ trên đời còn chưa có ai bị móng lừa đập chết không, có phải anh muốn
tôi phá kỉ lục không thế? Tôi dù có lên cửu thiên ba bận chín ngày uống nước lạnh,
từng ngụm từng giọt cũng phải ghi tạc anh trong lòng!”
Tôi
không kịp nói nhiều, lại lôi ra một cái móng lừa đen nhét vào miệng bánh trưng.
Tuyền
Béo nói:”Ầm Ầm ào ào giở cái trò quỷ gì thế?”
Tôi
nói: “Anh từng thấy người chết mở miệng chưa?”
Tuyền
Béo nói: “Có quái gì? Người chết đánh rắm tôi còn gặp rồi!”
Lời
vừa dứt, trong miệng Tần vương khạc ra một đám lửa ma trơi, lúc xanh lúc vàng.
Những
năm trước, thường có lời đồn về ma trơi tấn công người, tương truyền đó là đèn
lồng của lão Diêm Vương, người sống mà bị ma trơi tấn công coi như là đụng phải
Diêm Vương. Kể cũng lạ, ma trơi giống như vật sống, lơ lửng phía trên quan
quách. Theo truyền thuyết mê tín ngày trước, đèn lồng của Diêm Vương là oán khí
của người chết, khi gặp ở nghĩa địa thường đuổi theo người, bạn chậm nó cũng chậm,
bạn chạy nó cũng chạy.
Bình
thường ma trơi thường xuất hiện ở mộ phần, bờ sông, bãi đất hoang, những chỗ đó
nửa đêm phần lớn sẽ có một ít lân quang chợt sáng chợt tắt, dân gian gọi đó là
ma trơi. Nhưng đèn lồng của Diêm Vương lại không giống, đó là oán khí ác quỷ vồ
người. Không giống lửa bình thường, âm hỏa này gặp cái gì liền thiêu cái đó,
dính lên da có thể cháy tới xương. Một khi để âm hỏa đụng vào người, dập cũng
không dập được, che cũng không che được. Đèn lồng của Diêm vương mặc dù cũng gọi
là ma trơi, nhưng thực ra là lửa nấp dưới mộ. Ma trơi rất nhẹ, trong mộ lại
không có gió, người đi vào sẽ kéo theo khí lưu, quỷ hỏa bèn đuổi theo người. Mộ
chủ hạ táng trong huyền cung, nhất định trong thi thể có phốt pho. Nếu kẻ trộm
mộ mở quan quách ra mà gặp ma trơi thì không thể không trốn, nhưng anh chạy
càng nhanh, ma trơi đuổi càng sát!
Tôi
với Tuyền Béo biết lợi hại vội cúi đầu xuống. Răng Vàng lại giống như chim sợ
cành cong, xoay người tính chạy, nhưng chân nam đá chân chiêu, như ba ba gặm
dưa hấu - lăn một vòng. Tôi liền túm hắn lại, đè xuống bảo đài. Ma trơi phun ra
từ thi thể đột nhiên mất hút, trường minh đăng trên hang rồng không tắt, vẫn
phát ra ánh sáng leo lắt nhưng đã tối đi rất nhiều so với vừa rồi, xung quanh
toàn một màu đen nhánh.
Răng
Vàng nằm trên đài sen ôm đầu:”Hồ gia.... Bánh chưng chui ra...!”
Tôi
thấy bốn phía không có gì bất thường, nghĩ rằng hắn thần hồn nát thần tính,
không để ý.
Tuyền
Béo ôm Phật phỉ thúy, vòng qua tới chỗ tôi nói: “Thằng oắt Răng Vàng này, thật là
đồ bỏ đi, nếu không nhờ tôi nhanh tay lẹ mắt để thứ này rơi xuống đất thì anh
có khóc tới chết cũng không có chỗ chôn!”
Răng
Vàng ôm lấy chân tôi, nói rằng hắn thấy bánh trưng khoác áo quan từ đài ngọc
chui ra, chân chân thật thật nhìn thấy!
Tôi
vừa nhìn vào quan quách một cái, dưới ánh sáng thâm u của trường minh đăng mặt
lão bánh chưng một màu tro tàn, hình rồng thêu trên áo quan cũng mất đi sắc
thái, tựa như bị phủ một lớp bụi đất vậy.
Tuyền
Béo nói: “Anh gặp quỷ à? Cái này không phải vẫn còn ở đây là gì? Lão Hồ, tiếp
theo có phải là di chuyển lão bánh chưng qua chỗ khác không?”
Tôi
nói: “Kim tỉnh ở dưới quan quách, không đẩy Tần vương ra thì sẽ không xuống được...”
Đang nói tới việc rời xác, nhưng nhìn Phật trân châu trong tay Tuyền Béo tôi lập
tức giật mình! Lúc mở quan quách ra, rọi đèn pin thấy tượng Phật phỉ thúy trân
châu lung linh tuyệt trần như thế, vừa mới ôm ra tại sao lại thấy không còn lộng
lẫy mà giống một mớ bùn nhão vậy?
Từ
xưa truyền lại một câu - “người sống không ăn cơm người chết”, ý là kẻ gian trộm
mộ vào cổ mộ, có thể thấy trái cây điểm tâm tòng táng, qua trăm ngàn năm vẫn
không mục nát, nhìn vậy nhưng lại không thể ăn, ăn vào sẽ giống như ăn đất, mê
tín mà nói thì những thứ đó đã bị quỷ ăn rồi. Thực ra thì đã qua quá lâu, mặc
dù ngôi mộ khép kín, khiến cho bề mặt của chúng không biến dạng nhưng thực tế
đã chẳng khác gì bụi đất rồi.
Không
chỉ có trái cây điểm tâm trong mộ giống như bị quỷ ăn mà tơ lụa cùng hoa văn họa
tiết cũng thế, sau khi quan quách bị mở ra thì chẳng mấy chốc chúng cũng trở
nên u ám, mà Phật trân châu chẳng biết tại sao cũng mất vẻ rực rỡ, cầm trên tay
còn nặng như chì, vẻ lộng lẫy của trân châu cũng không còn. Tôi còn tưởng do
trường minh đăng quá tối nên không nhìn rõ, lại lấy đèn pin chiếu qua - vẫn giống
như bùn đất vậy.
Tuyền
Béo nóng nảy hỏi tôi: “Lão Hồ, vừa rồi vẫn còn là tượng Phật trân châu, làm sao
bây giờ lại giống như bùn đất rồi?”
Tôi
nói: “Trong mộ thất tối lửa tắt đèn, có phải là anh ôm nhầm rồi không?” Lời vừa
thốt ra, ta lại cảm thấy không đúng, minh khí đáng tiền như vậy, Tuyền Béo có
thể sơ xuất được sao? Huống chi hắn căn bản cũng không buông tay, không thể nói
là nhặt nhầm được.
Răng
Vàng bảo: “Tuyền Béo, ta biết!!!!”
Tuyền
Béo nói: “Ngươi có rắm thì mau phun ra!”
Răng
Vàng nói: “Nhất định đã bị quỷ mang đi âm phủ rồi!”
Tuyền
Béo nói: “Ngươi thì biết cái rắm gì! Mẹ nó ăn cơm người cũng không nói tiếng
người!”
Răng
Vàng nói: “Không tin thì ngươi thử nhìn lão bánh chưng xem, áo liệm, minh khí đều
giống như bị phủ một tầng đất rồi, phủi không hết, thật ra thì không phải bị bụi
đất che phủ, nói trắng ra là hữu hình mà vô chất!”
Tôi
nói: “Không đúng, nếu như hữu hình vô chất, minh khí đặt trước mặt kia anh sờ
cũng không được. Đằng này không chỉ có Phật trân châu mà hết thảy minh khí xung
quanh tựa hồ có mất đi cái gì đó nhưng mà tôi nhất thời không biết phải hình
dung ra sao.”
Tuyền
Béo vỗ đầu một cái: “Nếu nói là mất đi cái gì thì chính là mất đi hào quang vậy!”
Hết
thảy những thứ chung quanh này giống như đã già đi một lớp bụi trần, cả trường
minh đăng trên am rồng cũng vậy. Ánh sáng đèn pin càng lúc càng mờ, tôi đưa tay
chạm thử một cái, trường minh đăng trên am rồng mặc dù không tắt nhưng đèn đuốc
lạnh như băng, có thể thấy Tuyền Béo nói cũng không đúng.
Răng
Vàng cả kinh nói: “Chết!”
Tuyền
Béo hỏi hắn: “Chết? Chết mà ngươi còn nói được?”
Răng
Vàng nói: “Tôi ném gạch dẫn ngọc *, như vậy mà hai người vẫn không hiểu gì sao?”
*
Ném gạch dẫn ngọc: Gợi ý vấn đề để lôi cuốn mọi người vào cuộc tranh luận. Dựa
theo tích Thường Kiến rất hâm mộ thơ Triệu Hổ, biết Triệu sắp đến vãn cảnh chùa
Linh Nham, Thường bèn đến trước đề hai câu thơ. Hôm sau, Triệu đến, thấy bài
thơ dở dang, liền đề thêm hai câu nữa, thành một bài thơ tứ tuyệt rất hay.
Ta
ngẩn người, ý tứ của Răng Vàng rất đơn giản, người chết với người sống khác
nhau chỗ nào? Người sống so với người chết - hơn nhau một hơi thở, một giọng
nói. Nếu như không có giọng nói, không nghe được thì gọi là người chết, không
thể nghe nói thì chỉ là một đống thịt. Người phân sống chết, đồ vật cũng chia sống
chết, bảo đài, quan quách, minh khí, đèn đuốc, thi thể, tất cả mọi thứ mất đi
ánh sáng cùng sắc thái, tất cả như nặn từ bùn đất, không phải là mất cái gì, mà
hết thảy - đều là chết hết!
Tuyền
Béo nói: “Ném gạch dẫn ngọc cái con khỉ? Thắp hương gọi quỷ thì có!” Trên mặt hắn
bị cái móng lừa đen ném trúng lỗ mũi còn đang rỉ máu nhưng dường như vẫn chưa
hiểu ra điều gì, vừa hùng hùng hổ hổ, vừa thả Phật chân trâu xuống, máu nhỏ xuống
tay tôi.
Ta
nâng mu bàn tay lên, không nhìn ra màu sắc, dùng đầu lưỡi liếm một cái, lại
không thấy giống máu, máu gà ngọt, máu chó tanh, máu người mặn, máu Tuyền Béo
không có bất cứ mùi vị gì. Tôi chột dạ, vội lấy đèn pin rọi qua, ánh sáng ảm đạm
vừa chiếu một cái, chỉ thấy gương mặt Tuyền Béo đã giống như tro tàn, cúi đầu
nhìn Răng Vàng giống hệt như thế, cũng giống hệt bánh chưng!
Răng
Vàng nói: “Hồ gia! Chúng ra xuy đăng bạt chá* rồi!”
*
Xuy đăng bạt chá: chỉ sự lung lay khốn đốn như ngọn nến bị tạt.
Tôi
nói: “Anh còn chưa chết bao giờ, sao biết chết là như thế?”
Răng
Vàng nói: “Mặt người sống không giống thế, đây còn không phải bánh chưng trong
quan tài à?”
Tuyền
Béo nói: “Lão Hồ, mặt mũi anh thế này sắp thành bánh chưng rồi!”
Tôi
nói: “Không cần để ý tôi, anh cũng thế!”
Tuyền
Béo nói: “Tôi làm sao mà cũng thế?”
Răng
Vàng nói: “Tôi nói hai người còn không tin, ác quỷ đã hút hết sức sống trong
huyền cung này rồi!!”
Tuyền
Béo nói: “Anh há miệng ra là quỷ, thấy quỷ rồi hả?”
Răng
Vàng nói: “Anh không thấy sao? Lão bánh chưng khạc ra một ngụm oán khí, đấy
không phải là ác quỷ bao vây huyền cung à?”
Tôi
nói: “Thứ lão bánh chưng phun ra là ma trơi, cũng chỉ lập lòe sáng rồi tắt, mê
tín mà nói thì là đèn lồng của Diêm Vương, thật ra là lửa nấp trong mộ thôi.” Lẽ
ra trước đây tôi không nên nói cái gì mà ngũ quỷ quấn thi, khiến cho Răng Vàng
nghĩ ngợi lung tung, nhưng hắn cũng nói
trúng một chút, từ lúc chúng tôi bị Mã Lão Oa Tử chôn sống, lạc vào huyền cung
chín tầng, mở quan quách, phía trên đỉnh cao là năm móng rồng vàng, nhưng sau
khi mở quan quách, trong điện tràn ngập sương khói mịt mù, ánh sáng càng ngày
càng mờ, cho dù đốt trường minh đăng cũng không thấy được rồng vàng ngậm châu
trên nóc điện. Tôi ngồi dậy, đứng lên trên bảo đài, mở đèn pin rọi một cái, rồng
vàng năm móng trên đầu há miệng kỳ quái, giống như một cái lỗ lớn âm u đáng sợ,
khí sống đều bị nó hút vào!